Phát hiện tác dụng mới của nọc rắn độc

Ở nước ta những loài rắn độc như hổ mang, cạp nong cạp nia, rắn lục… đã nổi tiếng từ lâu về sự độc hại chết người. Các khu rừng rậm nhiệt đới của Ấn Độ, châu Phi và Nam Mỹ cũng có nhiều loại rắn độc mà chỉ sau khi bị chúng cắn ít phút là nạn nhân tử vong.Tuy nhiên, con ngưòi cũng đã biết sử dụng nọc độc của rắn để làm thuốc chữa bệnh (ở đây ta không đề cập tới những khía cạnh khác như sử dụng mật rắn, thân xác rắn đế ngâm rượu).

Về bản chất hóa học, nọc rắn là những pro-tein được một tuyến ớ vùng mang tai rắn tiết ra Khi rắn cắn người hay các động vật khác, tuyến nọc độc sẽ co bóp làm cho nọc chạy ra theo một rãnh ở răng (thường ở các răng nanh hàm trên) Qua vết rắn cắn nọc độc sẽ xâm nhập vào máu. di chuyển theo tuần hoàn và gây ngộ độc cho cơ thể như làm tê liệt thần kinh, tan máu . Chính vì thế mà khi bị rắn độc cắn, động tác cấp cứu vô cùng quan trọng lf phải làm ga-rô ngay để ngăn chặn nọc độc về tim. Nhiều thổ dân còn chặt đứt ngay ngón tay, ngón chân bị rắn cắn

Rắn tuy độc nhưng từ rất xa xưa một vài nền văn minh nhân loại đã rất kính trọng và tôn sùng con rắn, coi rắn như biểu trưng của sự khỏi bệnh, ngành dược lấy con rắn làm biếu tượng, ớ đây nếu loại trừ các yếu tố thần bí ra, đứng về mặt khoa học mà xét thì con rắn nói chung và nọc rắn nói riêng cũng đã có nhiều đóng góp cho công việc chữa chạy nhiều thứ bệnh khác nhau.

Thông thường người ra nuôi rắn lấy nọc định kỳ rồi đem chế biến thành các thuốc bôi ngoài da để chống đau nhức, đặc biệt là trong các chứng bệnh tê thấp. Một số nọc rắn còn được dùng làm các vị thuốc chống các chứng hen. dị ứng. Cơ chế và vai trò của nọc rắn tác động như thế nào trong cơ thế vẫn đang được các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu.

Gần đây nhất, một hãng nghiên cứu nối tiếng trên thế giới là Hoechst Marion Roussel của Pháp phát hiện ra một tác dụng mới của nọc rắn Vipe (thường sống ớ nước Braxin) là gây dãn mạch và làm hạ huyết áp. Cơ chế dược lý của tác dung này đã được chứng minh. Trong cơ thế con người có một vài chất được tạo thành trong các mô của cơ thể như kinin, bradykinm có tác dụng làm giam áp lực máu trong lòng các động mạch lớn nho do việc tạo ra sự dãn các mạch máu này. Trong nọc độc của loài rắn Vipe có chứa những loại protein có khả năng làm tăng hiệu lực giám huyết áp và dãn mạch của kinin.

Dựa trên kết quả dược lý này các chuyên gia về hóa học của Hoechst đã tổng hợp thành công những hoạt chất sinh học cũng có những tác dụng tương tự như nọc rắn Vipe Nhờ đó mà một thứ nguyên liệu dồi dào hơn, sẽ được điều chế theo qui mô công nghiệp để dùng làm thuốc

SK và ĐS năm 1996

Rau ngổ

Rau ngổ (Limnophila aromatica (Lour) Merr) thuộc họ hoa mõm chó (Scrophulariaceae), miền Nam gọi là rau om là một cây cỏ mọc ở nước, có rễ chùm Thân ngầm nằm ngang, bén rễ ở các mấu.Thân đứng nhẵn hoặc có lông, thường không phàn nhánh, có khía dọc, cao 20-30 cm. Lá mọc đối hoặc mọc vòng 3 cái một, không cuống, hình mắc.dài 1,5-4cm, rộng 6-10 mm, đầu nhọn, mép khía ràng, gân giữa nổi rõ, gân bên mờ, Hoa mọc riêng lẻ ở kẽ lá, có cuống dài, màu hồng tím nhạt hoặc trắng.Quả nang nhẵn, hình trứng.Toàn cây vò ra có mùi thơm đặc trưng.

Có tài liệu lại phân biệt hai toại rau ngổ: loại hai lá mọc đối, thân nhẵn, có tèn khoa học là Limnophiỉa conlerta Benth. in DC. và loại 3 là mọc vòng, thân có lông là Umnophila aromatica (Lour) Merr

Tránh nhầam với rau ngổ trâu (Enhydra tỉuctuans Lour) thuộc họ Cúc (Asteraceae). thường được dùng làm rau ăn cho lợn

Rau ngổ mọc hoang ở đầm lầy. ruộng nước, còn được trồng làm rau gia vị . Loại lá mọc đời thường được dùng ăn với canh chua nấu với thịt lợn nạc hoặc cá. Loại 3 lá mọc vòng lai thích hợp với mòn thịt chó, giả cày

Rau ngổ chứa tinh dầu. Flavonoid. coumahn, acid hữu cơ. đường khư, lá mót vi thuộc dân gian, có vị cay, thơm, tính mát, dược dung trong những trường hợp sau.

Chữa ban đỏ: Rau ngổ (20g), dãy vac tia (20g). mảng sậy (10g). đọt tre mỡ (lOg) Tất cả rửa sạch. thái nhỏ, phoi khô. sắc với 400ml nước còn lOOml. uống làm hai lần trong ngày

Chữa đái ra máu: Rau ngổ (phần thân sát gốc 10g). mộc lặc (10g), rễ cò tranh (10g), thái nhỏ, phơi khô, tám rượu, sao vàng, rễ sắc uống

Chữa đái dầm: Rau ngổ (20g), mi* tàu (20g), cỏ mán trầu (20g), cỏ sữa lá nhỏ (10g), thái nhỏ, phơi khô, sắc uống sau bữa ăn chiều;dùng 3-4 lần.

Chữa sỏi thận: Rau ngỏ (100g) dùng tươi, chia làm hai lần, sáng và chiều. Mỗi lần lấy 50g, rửa sạch, giả nát với ít muôi, thêm nước, gạn uống, dùng 5-7 ngày. Có thế dùng thêm mã đề, râu ngô… (kinh nghiệm của lương y Lê Quang Tốt).

Ngoài ra, rau ngổ còn được dùng để chữa rắn cắn, sổ mũi, ho gà, bệnh ngoài da.

Theo tài liệu nước ngoài ở Đài Loan, rau ngổ được dùng chữa đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, ngộ độc. ở Malaysia, cả cây rau ngổ giã đắp chữa sưng tấy, đau chân; rễ hoặc lá sắc uống là thuốc giảm sốt, kích thích tiêu hóa, long đờm. ở livdo-ne-si-a, dịch ép từ lá rau ngổ chữa vết thương, vết loét.

SK và ĐS năm 1996

Bệnh lý vùng HẬU MÔN

PGS.PTS Nguyễn Mạnh Nhâm

Các bệnh lý về hậu môn như trĩ, rò hậu môn. là những bệnh rất hay gặp ở nước ta cùng như trên thế giới, ngay từ những buổi bình minh của nhân loại (Y học cổ đại Ai Cập 2000 năm trước công nguyên đã có nói đến bệnh trĩ, rô -Park thời trung cổ), châu Âu cho bệnh trĩ là do thanh Piacrti phụ trách, là sự trừng phạt của Chúa với cả kẻ giàu và ngưòi nghèo, cả nam lẫn nữ không trừ một ai. Có những sứ giả đã quả quyết rằng Pháp thua trận Watertoo chỉ vì Napoleon bị con bột phá của bệnh trĩ và nếu như lúc đỡ Napoleon dùng mấy chục gam thuốc nhuận tràng thì lịch sử’sẽ đổi khác! Thời hoàng hậu Victoria ở Anh bị bệnh trĩ là một “mốt” của quan chức, họ cho rằng quan chức phải có ba điều: hói đầu (vì họ thông minh); to bụng (vì họ giàu sang , sung túc) và bị bệnh trĩ (đế luôn có dáng điệu trầm ngâm tư duy).

Tại nước ta, cò nhân có câu “Thập nhân cứu trụ’ (mười người chín trĩ) chứng tỏ rất nhiều người mắc bệnh tri. Tỉ lệ mắc bệnh trĩ trong dân chúng chính xác là bao nhiêu? Đầu năm nay, chúng tôi có tiến hành khám cho 3364 CNVC .khỏe mạnh của một nhà máy, thấy có bệnh trĩ tới 35% (1180 người)

Nếu ta chỉ lấy tỷ lệ thấp nhất là 33%, thì ở nước ta có tới trên 20 triệu người; ở Hà Nội có trên dưới 50 vạn người bị bệnh trĩ. Đây mới chỉ là trĩ nếu kể cả các bệnh khác tại vùng hậu môn như rò, áp xe. nứt kẽ, ung thư.. thì số người cần được điều trị hẳn là một con số đáng suy nghĩ. Hơn nữa. đa số các bệnh nhân thường ngại đi khám (nhất là phụ nữ), tự điều trị bằng thuốc dân gian, tự mua thuốc. .. và cố chịu đựng, chỉ khi bệnh đã quá rồi mới khám và điều trị tại các cơ sở y tế; lúc này đã muộn. Ai cũng biết rằng nếu được chẩn đoán, xử trí sớm bệnh nhẹ và càng để lâu càng nặng và tốt nhất là có biện pháp phòng bệnh.

Ở nước ta, hậu môn học là một ngành học chưa được quan tâm đúng mức.

Thứ nhất, các thầy thuốc biết quá ít hoặc ít chú ý tới căn bệnh này, chỉ quan tâm đến những trường hợp mổ lớn, dễ nổi tiếng như mổ gan, mổ tỉm, mổ dạ dày… Người bệnh thường lo sợ với thành kiên; mổ rất đau, hay nhiễm khuẩn, hay tái phát và đe dọa mất tự chủ hậu môn.

Thứ hai người bệnh, do sợ đau, ngại khám, tự điếu trị là chính qua “mách giúp”,”bảo giùm”, qua hiệu mua thuốc – đôi khi ơ phóng khám bệnh người thầy thuộc nhiều khi kê đơn mả không khám hậu môn. Do vậy, đã có khá nhiều bệnh nhân ung thư trực tràng được kê đơn điều trị trĩ hàng năm.

Kết quả là bệnh không được chẩn đoán và điều trị đúủng, nhân dân không biết cách phòng bệnh trong khi đó những tiến bộ y học ngày nay đã cho phép điều trị sớm, có kết quả những bệnh này.

Bệnh trĩ. 90% không phải mổ, mà có thể điều trị bằng thuốc, các biện pháp nhẹ nhàng không đau (không cần gày tè, gây mê), không cần nằm viện, và giá thành rẻ hơn rất nhiều, không ảnh hưởng đến ngày lao động (vì hầu như khòng cần nghỉ việc) – đó lả các phương pháp tiêm sơ (Mitchel), tia hồng ngoại, tia lade, máy điện từ trường (WD2). thắt bằng vòng cao su (Blaisdell-Barron).

Với bệnh ung thư trực tràng, nếu phát hiện và điều trị sớm (Duke A). kết quả điều trị tới trên 90% sống sau 5 năm, nhưng để muộn (Duke C), tỉ lệ sống sau 5 năm chỉ còn 15%-40%. Mà 90% bệnh nhân ung thư có thể phát hiện được, chỉ bằng động tác đơn giản: thăm hậu môn bằng ngón tay trỏ.

Như vậy, một chiến lược đối với các bệnh ở hậu môn cần được hoạch định; một kế hoạch nghiên cứu về bệnh lý, dịch tễ học, về các phương pháp điều trị, thuốc men hợp lý cần được đề xuất, ngỗ hầu có được các biện pháp hữu hiệu, thích hợp, ít phí tổn áp dụng cho các tuyến tỉnh và huyện trong cả nước.

SK và ĐS năm 1996