Khí công với bệnh ung thư

Ở nước ta và một số nước Châu Á. đặc biệt là Trung Quốc, môn khí công là một trong những di sản quý báu của y học cổ truyền mang đậm tính y học phương Đông. Khoảng hai mươi năm nay, ở Trung Quốc phong trào luyện tập khí công rất phổ biến. Các nhà y học đã nghiên cứu về mật cơ lý và áp dụng sâu môn tập khí công vào lĩnh vực phòng và chữa nhiều loại bệnh. Kết quả đã chứng minh luyện tập khí công có khả năng phòng chóng nhiều bệnh nan y. Ví dụ: Người mắc bệnh ung thư đã qua phẫu thuật, điều trị phóng xạ hoặc điều trị bằng y học cố truyền nếu có luyện tập khí công hỗ trợ. kết quá điều trị rất khả quan,

Bệnh viện Quảng An Môn thuộc Viện nghiên cứu y (Trung Quốc) đã theo dõi số bệnh nhân điều trị nội trú bệnh ung thư gồm 163 ca thường xuyên tập khí công và 60 ca không tập. Kết quả cho thấy trong nhóm tập khí công đều đặn từ 3 tháng liên tục trở lên, bệnh thuyên giảm rõ rệt. số còn lại không tập hoặc tập không đều, diễn biến bệnh trạng không được khả quan. Các nhà nghỉên cứu cho rằng, đối với bệnh nhân ung thư, để có thể tránh khả năng phải can thiệp bằng phẫu thuật, hoặc cải thiện tình trạng hậu phẫu và trưòng hợp đang điều trị bằng y học cổ truyền, đây thực sự là một biện pháp tốt. khá lý tưỏng nhằm điều chỉnh thân tâm,cân bằng âm dương. Phần lớn người bệnh ung thư giai đoạn giữa và cuối coi luyện tập khí công là biện pháp để lấy lại sức khỏe, liệu phát hữu hiệu để gửi gắm niềm tin kéo dài sự sống. Chính vì vậy hàng chục năm trở lại đây đội ngũ những người luyện tập khí công ngày càng đông đáo. Trong số đó không ít người mắc bệnh ung thư hiểm nghèo. Nhờ tập khí công phối hợp với điều trị bằng y học cổ truyền đã kéo dài cuộc sống của bệnh nhân ung thư tới 1 năm, 2 năm có người tới trên 5 năm.

Trên cơ sở nghiên cứu và kết quả lâm sàng, nhiều nhà y học phương đông đã kết luận: Khi công là một phương pháp điều trị hỗ trợ tốt để người mắc ung thư điều hòa thần khí, cải thiện tâm hư, điều lý khí huyết thông kinh lạc, cân bắng âm dương Từ đó đạt tới khả năng đẩy lùi bệnh tật, ngăn cản quá trình diễn biến di căn” .

NGUYỀN HỒ HỪNG (Theo Hồng Công Magazin)

SK và ĐS năm 1996

Có đáng quan tâm không P2

Mức lương bình quân theo số liệư của Tổng cục Thống kê tháng 9 -1995 của cán bộ ngành y tế là 307. OOO đồng/tháng/người chỉ đứng trên ngành nông nghiệp Công đoàn ngành y tế đã khảo sát và đưa ra số liệu như sau.

Bình quân thu nhập toàn ngành: 280.000d/tháng/người (Cán bộ đại học ở khu vục Trung ương 351.5 ngàn đồng, khu vực địa phương 303.4 ngàn đồng, cán bộ trung học khu vực Trung ương 261.1 ngàn đồng, khu vực địa phương 223.7 ngàn đồng, cán bộ sơ học khu vục Trung ương 189.2 ngàn đồng, khu vực địa phương 157.8 ngàn đồng.

Các chế độ chính sách dành cho cán bộ y tế như phụ cấp độc hại… đã thấp hơn trước đây. Tại Quyết định 794/TTg ngày 05/12/1995 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù dối với công chức, viên chức ngành y té th i múc phụ cấp của một ca phẫu thuật như sau: Người mổ chính ca mổ lớn 15.000đ, mổ vừa 10.000đ, mổ nhỏ 7.500đ, người phụ mổ 10.000đ /7.500đ/5.000đ, ngưòi giúp việc ca mổ 7.500đ/5.000đ/2.500đ: phụcấp trực 24/24 giờ ở ba múc 7.000đ, 5.000đ và 3.000đ, phụ cấp tham gia trực tiếp để tắt các ổ dịch là 12.000đ/ngày.

Để thực hiện Quyết định 111/HĐBT, đồng loạt giảm biên chế 20%, do nhiều cơ sở y tế như Trung tâm Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh. Bênh viện K. Bênh viện Từ Dữ. Bênh viên Việt Đức. Bệnh viện Bạch Mai. Bệnh viên Chợ Rẫy , Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em số lượng người bệnh đến khám chữa bệnh tăng gấp hai, ba lần so với chỉ tiêu nên nhiều nơi đã phải tự bó tiền rút từ 30% viện phí (theo quy định được để lại thưỏng cho cán bộ nhân viên bênh viện ì để thuê hợp đồng. Ví dụ Bệnh viện Chợ Rầy có 618 hợp đồng/1683 lao động toàn bệnh viện (36.72%). Viện bảo vệ súc khỏe trẻ em 200 hợp đồng/800 cán bộ nhân viên. Một bệnh viện tuyến tỉnh như bệnh viện tỉnh Thái Binh cũng đã phải thuê 64 hợp đồng/1500 biên chế (10.66%).

Có thể vì tính chất công việc căng thẳng nặng nhọc phức tạp nhưng tiền lương quá thấp không tương xứng vói sức lao động bỏ ra nên một số nơi nhiều cán bộ y tế bỏ nghề. bỏ việc, xin chuyển sang các văn phòng đại diện nước ngoài, làm trình dược viên. Ví dụ tại thành phố Hồ ChíMinh, bình quân 5 năm 1991- 1995 số lao động bỏ việc là 1,1% trong đó y sĩ 21,7%, hộ sinh 17%. Thống kê tại 5 bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Phạm Ngọc Thạch. Nhi đồng , An Bình và Trung tâm Ung bướu trong 5 năm đã có 280 người xin thôi việc. 77 người bỏ việc. 41 người nghỉ hưu trước tuổi.

Điều đáng lưu ý là ở một số cơ quan quản lý Nhà nước, tình trạng khá phổ biến là cán bộ y tế làm ở các chương trình chiếm tỷ lệ cao, dẫn đến một số hệ quả về chất lượng và hiệu lực quản lý Nhà nước giảm sút.

Xin có lời đề nghị Quốc hội quan tâm nhiều hơn đến đời sống càn bộ y tế và như vậy chứng tỏ rằng nhà nước ta đang quan tâm tới một vấn đề hết sức quan trọng hiện nay đó là sức khỏe con người.

SK và ĐS năm 1996

Có đáng quan tâm không

Một sự kiện chính trị lớn đang diễn ra hiện nay: Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10 đang được tiến hành tại Hội trường Ba Đình lịch sử

Xin gửi tới Quốc hội một số thông tin, được rút ra từ bài phát biểu của Bác sỹ Nguyền Ba Duyệt ủy viên Ban chấp hành Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam. Chủ tịch công đoàn Ngành y tế Việt Nam tại lễ đón nhận Huân chương Sao Vàng của Nhà nước trao tặng Ngành y tế (27/2/1996).

Ngành Y tế được giao nhiệm vụ hết sức vẻ vang và vô cùng nặng nề là chăm sóc và bảo vệ súc khỏe nhân dân. Tầm quan trọng của nó đã được thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng ta. đặc biệt là Nghị quyết IV.

Con người là vốn quý nhất của xà hội sức khỏe là vốn quý nhất của con người. Chân lý đó mãi mãi đúng.

Nhưng lao động Ngành Y tế thật sự là một thứ lao động nặng nhọc, độc hại và nguy hiếm. Trong các bệnh viện, nguời cán bộ y tế phải làm việc 24/24 giờ trong một môi trường đầy ô nhiễm bởi các loại vị khuẩn, siêu vi khuẩn, hóa chất, tia phóng xạ bức xạ ion hóa. Theo báo cáo này, qua khảo sát 80 cán bộ vào làm việc ở các khoa cấp cứu hồi sức điều trị tích cực. khoa điều trị bỏng của 6 bệnh viện Trung Ương và 6 bệnh viện địa phương trong 5 năm qua thì 100% anh chị em đã giảm cân so với ngày mới vào từ 3đến 5kg và không một ai lên cân trở lại. 15% nhiễm bệnh (trong đó 4% loét dạ dày tá tràng. 8% suy nhược thần kinh. 3% mắc các bệnh truyền nhiễm. Trong khảo sát 3 bệnh viện tuyến tỉnh mới đây có 20% cán bộ y tế bị viêm gan vi rút. Trong số cán bộ y tế làm việc tại khoa X-quang và y học hạt nhân của 4 bệnh viện (Bạch Mai, Việt Đúc, Viện Lao và bệnh phổ, Bệnh viện tỉnh Hà Tây) trong 16 năm qua đã có 8 giáo sư, bác sĩ, kỹ thuật viên bị chết trong thời gian đương nhiệm vì ảnh hưởng của tia phóng xạ(trong đó có 2 giáo sư, bác sĩ bị xốp xương, gãy xương nhiều chỗ và tiểu đốt xương sống, 4 giáo sư, bác sỉ, kỹ thuật viên bị chết vì ung thư hạch, ung thư gan. ung thư vòm họng, 2 bác sĩ chết vì suy tủy…) 100% anh chị em lượng bạch cầu dưới 5000/ml (bình thường là 7000-8000ml). Viện Huyết học truyền máu đã đưa ra kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy gần 90% anh chị em tiếp xúc với tia phóng xạ ở Bệnh viện K, Bệnh viện Bạch Mai đã bị tổn thương nhiễm sắc thể, trong đó có những trường hợp tổn thương tới 16% tức là gây biến loạn gen. Có lẽ vì thế mà 3 anh chị em sinh con đấu lòng đã có phần dị dạng.

Trong khu vực y tế dự phòng và ỵ tế cộng đồng, hàng nghìn cán bộ y tế đã dãi nắng dầm mưa. lội suối trèo đèo từ ngày này qua tháng khác đến với thôn bản. nơi xa xôi hẻo lánh, để phòng chống dịch bệnh. Y sĩ Đào Thị Bích ở tỉnh Đồng Tháp đã 4 năm ròng lênh đênh sông nước đến từng nhà dân để phát hiện và chữa trị cho bệnh nhân phong.

Còn có thể kể rất nhiều về những tấm gương hy sinh thầm lặng trong công việc của hàng vạn cán bộ y tế trong các mặt hoạt động của ngành.

SK và ĐS năm 1996