Lời cảm ơn

Tháng 4 năm 1993, tôi bị viêm gan tái phát. Cách đây 23 năm tôi đã bị một lần. Lần này nặng hơn. Ấn dưói mạng sườn phải đau nhói, bụng trướng hơi. tức ách khó chịu, nước tiểu vàng. . Ai cũng khuyên tôi đến bệnh viện điều trị gấp nhưng tôi sợ thú tục “đầu tiên” như nhiều người đồn đại và thực tế tôi cũng không có điều kiện, nhất là không có nhiều tiền. Hồi đó chưa có bao hiểm y tế như bây giờ. Bụng tôi ngày càng đầy trướng, gan viêm sa xuống mạng sườn phải rõ rật… May sao tôi sực nhớ, nàm 1992 khi đọc báo Sức khỏe (lúc đó báo chưa đổi tên là Sức khỏe và Đời sống như bây giờ), tờ số 1 (354) ngày 5-1-1992 có bài “Cây chó -de chữa nhiều bệnh” trong đó có phần chữa viêm gan của dược sĩ Đồ Huy Bích. May phúc cho tôi thay bài thuốc đơn giản, dễ kiếm, rẻ tiền nện tôi có ghi vào sổ tay : ca cây chó đè (20g) băm nhổ với gan lợn (1 OOg), nắu nhiều lần láy nước đặc uống trong một ngày. Gan lợn có sẳn ở quầy hàng thịt, cây chó đẻ mọc hoang khấp nơi, rất dễ kiếm. Tôi uống đến chén thứ năm đã bình thường, ngủ được. Tôi uống thêm hai chén nữa để củng cố cho vững chắc. Đến nay đã gần 4 năm qua, tôi không hề dùng thuốc trị hay bổ gan nào khác mà sức khỏe vẫn ổn định. Năm nay tôi 81 tuổi, nhà có làm nghề thủ công, có hôm làm việc khá vất vả, mệt nhọc thế mà gan tôi vẫn bình thường. Đến đây, tôi nghĩ đã đủ thòi gian để kiếm nghiệm bài thuốc tuyệt diệu nói trên, nên tôi viết bài này để tỏ lòng quý mến tờ báo Sức khỏe và Đời sống, biết ơn Tòa soạn, cảm tạ dược sĩ Đỗ Huy Bích và thông tin với độc giả để ai cần hoặc mách cho người khác áp dụng bài thuốc thần hiệu về bệnh gan.

LÊ CHƯƠNG Huyện Nam Đàn – Nghệ An

SK và ĐS năm 1996

An toàn và vệ sinh lao động ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh P3

VSLĐ cho thiết kế có tổ sản xuất đang đi dần vào nề nếp

NGUYỀN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

Sở dĩ có tình trạng trên trước hết phải nói đến trách nhiệm của người sử dụng lao động. Phần do chủ DN không nhận thức được mức độ nguy hại của các yếu tố độc hai ở DN mình, do thiếu hiểu biết về Bộ luật lao động Pháp lệnh BHLĐ luật bảo vệ sức khóe nhân dân. Luật bảo vệ môi trường Điều lệ vệ sinh trong đó có vấn đề AT vệ sinh và sức khỏe của người lao động trong quá trình sản xuất họ phải chịu trách nhiệm mặt khác một khi chủ DN do đơn thuần chạy theo lợi nhuận ý thức chấp hành luật pháp chưa nghiêm thiếu kiểm tra. giám sát đã dẫn tới vi phạm các quy trình quy phạm tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn Điều này đặt ra một vấn đề là khi xét duyệt cấp giấy phép hoạt động các doanh nghiệp phải có đủ những điều kiện bắt buộc về AT, VSLD chủ DN phải được tập huấn để có kiến thức về pháp luật về AT VSLD hàng năm phải có kế hoạch BHLD.

Về phía ngườí lao động, phần lớn (18% trong tổng số 84% số lao động có tiếp xúc với chất đốc, bụi) không biết được có yếu tố độc hại trong quá trình sản xuất .Họ không được huấn luyện và huấn luyện định kỳ các quy định về ATLĐ, VSLĐ đặc biệt với những người làm việc ở những nơi có điều kiện nghiêm ngặt về AT, VSLĐ thiếu tự giác thực hiện các quy định; mặt khác do cần việc làm mà người lao động đã tự mình ràng buộc vào xí nghiệp không kêu ca, đòi hỏi gì. Điều này cho thấy sự cấp thiết phải làm là: sau khi tuyển dụng, chủ DN phải tổ chức tập huấn cho người lao động về vs và phòng hộ lao động; còn bản thân người lao động phải thực sự tự giác chấp hành các quy định về vấn đề này về phía các cơ quan quản lý Nhà nước về AT và VSLĐ cũng còn nhiều việc cần làm như: tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra các DN; sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc cho vay vốn để sửa chữa nhà xưởng, trang bị mới máy móc thiết bị nhằm cải thiện điều kiện lao động, xử lý nghiêm minh các tai nạn lao động gây chết ngựờí và gây hậu quả nghiêm trọng: sự cần thiết phải có một tổ chức y tế phù hơp với quy mô xí nghiệp vừa • nhỏ, có sự phân cấp quản lý rõ ràng: tổ chức tập huấn về VSATLĐ cho chủ doanh nghiệp. cán bộ y tế địa phương, y tế doanh nghiệp; thường xuyên giáo dục ý thức ATVSLĐ cho người lao động…

SK và ĐS năm 1996

An toàn và vệ sinh lao động ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh P2

Do mặt bằng chật hẹp.nhà xưởng tạm bợ, phần lớn nằm sát khu dân cư hoặc ngay tại gia đình tình trạng nóng, ồn bụi đều vượt quá giới hạn cho phép nhiều lán lại không có đủ phương tiện thông gió, hút bụi. Số liệu thông kê cho thấy có tới 80 – 90% số nhà xưởng không đạt tiêu chuẩn vệ sinh 70% không bảo đảm an toàn xử lý hơi độc.

Trong việc thực hiện các chế độ chính sách bảo hộ lao động, ngoại trừ một số cơ sơ may. dệt xuất khẩu, có tới 90% số còn lai chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt Luật bảo hộ lao động (BHLĐ) như không ký kết hợp đồng lao động không có người theo dõi công tác BHLĐ, không có mạng lưới an toàn viên, vệ sinh viên; không tổ chức khám sức khỏe Khi tuyển lao động (90% số DN) cũng như không khám sức khỏe định kỳ cho người lao động (82%); 98% số DN nhỏ và 60% số DN vừa không có hoat động y tế, trang bị phòng hộ cá nhân thiếu. Tình trạng vi phạm thời gian làm việc, nghỉ ngơi của người lao động là phổ bỉến ở nhiều DN người lao động phải làm việc 7 ngày trong tuần; một số DN đưa ra định mức lao động quá cao, buộc người lao động phải làm việc 10-12 giờ/ngày.

Thực trạng ATVSLĐ ở khu vực này là đáng lo ngại, sức khỏe người lao động bị giảm sút nghiêm trọng .Tỷ lệ mắc các bệnh tim mạch, hô hấp, khớp, bệnh ngoài da… cao hơn hẳn so với các cơ sở quốc doanh, khả năng lao động và năng suất lao động giảm sút rõ rệt.

Tuy vậy, từ khi triển khai thực hiện Pháp lệnh bảo hộ lao động, đặc biệt là Bộ luật lao động, tình hình ATVSLĐ ở khu vực này đã có những chuyển biến tích cực hơn Một số DN đã xây dựng được nội quy AT, VSLĐ, phòng chống cháy nổ, có phương án xử lý và khắc phục hậu quả khi có sự cố. Hầu hết các DN đã có trang bị phòng hộ cá nhân đơn giản, người lao động được học tập, phổ biến nội dung công tác AT, VSLĐ. Một số rất ít doanh nghiệp bước đầu đã chú ý cải tiến công nghệ, cải thiện điều kiện làm việc và môi trường ở những khâu nặng nhọc, đầu tư thiết bị để giảm nhẹ lao động thể lực. Một số chủ DN đã quan tâm đến sức khỏe người lao động: có nước uống chống nóng, ăn bồi dưỡng giữa ca, bảo đảm thời gian lao động, nghỉ ngơi, tố chức cho người lao động đi nghỉ mát.. Một số nơi, do sự hoạt động tích cực của các ngành lao động, y tế và được sự quan tâm của chính quyền địa phương nên việc xét duyệt AT,

SK và ĐS năm 1996