Kinh phí cho nghiên cứu khoa hoc còn quá thấp

Nghiên cứu khoa học và đào tạo

“Tuy vừa nghiên cứu. vừa phục vụ nhưng ngay trong 2 năm đầu 1976 – 1977 viện đã triển khai và phối hợp triển khai 38 đề tài. Và sau 20 năm đã nghiên cứu hoàn thành trên 160 đề tài. Tiêu biểu năm 1986 -1994 viện đã chủ trì 2 đề tài và 6 nhánh cấp Nhà nước (648 – 01 07 và KY – 01 -07) về dịch hạch được Bộ KHCN-MT khen tặng. Tham gia 7 đề tài nhánh cáp Nha nước khác do các viện trong và ngoài ngành chủ trì phối hợp nghiên cứu trong khuôn khổ hợp tác khoa học với Liên Xô (cũ). Anh (đại học Oxpord) về dịch hạch với Tiệp (cũ) về các bệnh nhiệt đới và cùng Đan Mạch thực hiện dự án phát triển tài nguyên nước ở Đắc Lắc…

Song song theo đó, viện đã mờ đào tạo giúp cơ sở 84 lớp tập huấn chương trình phòng dịch, 11 lớp kỹ thuật xét nghiệm… đồng thời hướng dẫn 14 đề tài tốt nghiệp đại học, hướng dẫn chuyên khoa cho nhiều cán bộ đại học, tham gia hướng dẫn 5 luận án phó tiến sĩ.

Giá như… phó tiến sĩ Vũ Đức Vọng Viện trưởng viện VSDT Tây Nguyên mở đầu cầu chuyện với chúng tôi như vậy …Giá như kinh phí cho nghiên cứu khoa học cao hơn thì kết quả đạt được của viện không dừng lại ở những con số như hiện có. Mỗi đề tài trung bình chỉ được cấp từ 3 đến 4 triệu đồng. Thử hỏi viện xoay sở ra sao với mức kinh phí như vậy ? Chi phí cho những đợt khảo cứu, rồi những tài liệu… rôì hàng loạt những tiêu tốn nho nhỏ khác liên quan đến công việc, với số tiền trên thật không đủ. Đã vậy trang thiết bị phục vụ cho nghiên cứu lạc hậu, cũ kỹ, chúng đa số đã có tuổi đời gần 20 năm… Hàng năm viện được Nhà nước cấp cho trên 1 tỉ đồng đặc biệt năm 1996 được cấp 2 tỉ đồng để trang trải cho mọi hoạt động với quy định dành 2% tổng kinh phí cho nghiên cứu… Ở một địa bàn hoạt dộng rất rộng như của viện thì quả là khó khăn trong chỉ tiêu. Cuộc sống vất vả đã làm nản lòng không ít cán bộ của viện, đây là nỗi đau lòng của những người lãnh dạo ở đây. Để cải thịện đời sống và đồng thời cũng giúp nhân dân trong việc khám và chữa bệnh, viện đã mở một trung tâm khám và chữa bệnh. Bước đầụ công việc này dã thu được kết quả tốt.

Việc học tập trau dồi thêm kiến thức là nỗi khát khao cháy bỏng của chúng tôi ấy thế nhưng từ năm 1985 đến nay, chưa có cán bộ nào được đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài. Các tiến bộ khoa học của nước ngoài đến với chúng tôi thật khó khăn, bởi vì chúng tôi không có điều kiện tiếp cận nó.

Thật khập khiễng khi so sánh với các doanh nghiệp, song chúng tôi vẫn cứ phải trình bày. Họ, các doanh nghiệp tại Tây Nguyên đi nước ngoài, thật dễ dàng nhờ kinh phí của chính họ hoặc các đối tác làm ăn nựớc ngoài (đây là một điều tốt) nhưng chúng tôi những người làm khoa học lại không thể làm như vậy bởi chúng tôi không có tiền. Trong khi đó như các nhà doanh nghiệp chúng tôi cũng rất cần đi xa học hỏi, nghiên cứu để nâng cao kiến thức *.

“Cần tạo điều kiện cho cán bộ của viện ….đó là câu nói kết thúc của phó tiến sĩ Vũ Đức Vọng với chúng tôi.

SK và ĐS năm 1996

Viện vệ sinh dịch tễ – 20 năm xây dựng và phát triển

“Theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, sau ngày miền Nam giải phóng viện vệ sinh dịch tễ (VSDT) Tây Nguyên được thành lập với mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng các dân tộc và đồng bào kinh tế mới trên vùng đất Tây Nguyên.

Những ngày đàu thành lập, với ngồn ngang những khó khản về vật chất, thiếu cán bộ… nhưng tập thể cán bộ cổng nhân viên của viện đã tranh thủ mọi nguồn lực lo toan xây dựng cơ sở vật chất ban đầu, đồng thời khẩn trương cử nhiều đoàn xuống cơ sở điều tra tình hình bệnh tật. Lúc ấy Tây Nguyên vừa thoát ra khỏi chiến tranh nên những cơ sở mà viện xuống điêu tra còn rất nghèo nàn về vậỉ chất, ý thức bảo vệ của người dân chưa cao. Các vùng đất bị bỏ hoang trong chiến tranh mang trong mình rất nhiêu ổ bệnh, thiên nhiên khắc nghiệt.

Những năm 1976 đến 1980 hầu hết các trạm VSDT các tỉnh trong khu vực chưa dủ sức dảm đương có hiệu quả nhiệm vụ của mình do vậy viện VSDT Tây Nguyên dã phải liên tiếp cử cán bộ xuống vừa làm thay, vừa giúp đỡ cơ sở tuyên truyền vận động vệ sinh phòng bệnh, điều tra xác minh và xử lý dập dịch… Trang thiết bị kỹ thuật của viện lúc đó cũng còn rất nghèo nàn nhưng viện vẫn sẵn lòng hỗ trợ trang thiết bị, vật tư góp phần xây dựng củng cố các trạm vệ sinh phòng dịch cơ sở. Nhờ sự tương thân tương ải như vậy mà những năm đầu sau chiến tranh tuy thiếu thốn mọi bề nhưng viện vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ dược giao bằng cách tận dụng mạng lựới y tế cơ sở, thu thập những thông tin về các bệnh lạ xảy ra ở địa phướng nhằm giúp viên thực hiện công tác nghiên cứu, đồng thời qua họ đưa các thành tựu y tế xuống dân.

Những năm tiếp theo, viện vẫn duy trì chỉ đạo, chi viện tích cực mọi mặt cho địa phương khi cần, mặt khác viện tập trung nghiên cứu chuyên sâu hom. Năm 1986 với vai trò thường trực tiểu ban dịch hạch quốc gia viện dã cùng các viện khác trong hệ thống vệ sinh phòng dịch khổng chế thành còng bệnh dịch hạch trong cả nước. Nhờ những thành tích trên năm 1990 viện đã được cấp trên tín nhiệm giao cho nhiệm vụ làm đầu mối chỉ đạọ một số chựơng trinh quốc gia vế y tế dự phòng. Viện đã cùng y tế các tình tham mưu đắc lực cho chính quyền, tổ chức triển khai đạt và vượt mọi chỉ tiêu cua năm tiêm chủng và ngày tiêm chủng toàn quốc, đưa các tính trong Khu vực từ loại c lên loại Đ trong bảng xếp hạng về thành tích VSDT. Thành công này đã được Bộ y tế khen thưởng.

Trong suốt thời kỳ nhận nhiệm vụ ở Tây Nguyên, viện đả cử trên 400 lượt đoàn công tác xuống tận các buồn lòng để tuyên truyền vệ sính phòng bệnh* khám bệnh, cấp thuốc, dập dịch, điều tra nghiên cứu phòng chổng bệnh dịch cho đồng bào dân tộc, do dó số dân mắc các bệnh truyền nhiễm 50 với cuối thập niên 70, 80 đã giảm nhiều. Cụ thể (tính chung cho đồng bào ngườỉ Kinh và đồng bào dân tộc). Tiêu chảy (tính trên 100.000 dân) 1991 -1994 là 543,30, 80 với năm 1986 -1990 giảm 6,4 lần, so với năm 1976 -1980 giảm 10,5 lần. Ly (tính trên 100.000 dân) 1991 – 1994 : 211,68 so vớí năm 1986 – 1990 giảm 4,2 lần, so với năm 1976 – 1980 giảm 9,2 lần… Dịch hạch (tính trên 100.000 dân) 1991 – 1994 : 18,74, so với năm 1986 – 1990 giảm 3,5 lần, so với năm 1976 – 1980 giảm 12,3 lần.

Hai mươi năm đã trôi qua, khi nhìn tại tập thể cán bộ công nhân của viện VSDT Tây Nguyên có thể tự hào vè mình bởi trong một khu vực hoạt động công tác rất khó khăn về mọi mặt nhưng họ vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ, đã căn bản dập tắt được các bệnh dịch nguy hiểm trên địa bàn Tậy Nguyên.

SK và ĐS năm 1996

Người giàu cũng ngáy

NGƯỜI GIÀU CŨNG NGÁY

Giữa hai Tổng thống Hoa Kỳ Oạ-sinhtơn và Ru-dơ-ven cùng vị thủ tướng nổi tiếng nhất của nước Ạnh là Soóc-sin có điều gì giống nhau ? Xin thưa rằng cả ba nhân vật lịch sử này đều có chung mọt nhược điểm cơ bản : họ ngáy như sám. Hơn nữa, Soóc-sin còn có thề được cói như mâu mưc của con người có tât cả các nguyên nhân cổ điển của sự ngáy : ông ta to béo, day dà, nghiện rượu và nghiện thuôc lá.

Tụy nhiên ngáy hoàn toàn không phải là sự dộc quyền của nguyển thủ các cường quốc Anh, Mỹ. Theo sự khảo sát của bác sĩ Ấn Độ At-gia Côt-ha-ti trong công trình “Ngáy; nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa” thì ngay cả nhà độc tài Mu-xô-li-ni của Ý cũng là một “ngáy sĩ’ lừng danh.

THÓI QUEN LẠ ĐỜI

Một người Trung Quốc tên là U-Feng có một thói quen lạ đời: ông ta nghỉ ngơi, ngủ, thậm chí ăn trưa trong tư thế “Trong cây chuối”. Cuộc sống đảo ngược đó đã xảy ra cách đây 10 năm khi ông phát hiện ra rằng tư thế này đã giúp ông trị được bệnh kém tiêu hóa và giảm được bệnh nhức dầu. UFeng năm nay ngọài 60 tuổi, ông có thể trồng cây chuối hơn 3 tiếng đồng hồ liền. Hiện tại ông có gần 100 môn sinh tập luyện theo phương pháp chữa bệnh mới dó.

LỌ LEM

Một buổi tối nọt đôi bạn cánh hầu ở thành phổ Trịnh Châu (Trung Quốc) rủ nhau tổ chức chiếu phim “tươi mát”. Chu Hải Viên một viên chức làm tại tòa thị chính thành phổ kiếm được một băng hình, còn Vương Thế Vốn, cán bộ của đài truyền hình địa phương thì xung phong nhận khâu kỹ thuật. Buổi chiếu được “thiết kế một cách bí mật trong một phòng phát hình của đài.

Nhưng khôn nỗi thay, đôi bạn chỉ mới bắt đầu xem được 10 phút thì phát hiện ra rằng cũng theo dõi các pha “cụp lạc” trên màn ảnh nhỏ còn có không ít khán giả của đài truyền hình thành phố.

Té ra là do quá ,hồi hộp thưởng thức “của độc” nên Vương ta đã ấn nhầm nút và thế là đã vô tình phát băng “tươi mát” lên kênh truyền hình toàn thành phố. Và hậu quả của vụ Mua vi-đê-ô chui” này là cả hai người đã bị tòạ án thành phố phạt tù vì tội truyền bá văn hóa đồi trụy”.

AI ĐIÊN HƠN ?

Một bác sĩ tâm thẩn ở Pháp quyết đinh thử hại người mắc bệnh điên để xem ái là người mảt trí hơn. Ông ta dưa cho một bệnh nhân hai tờ giây bạc và bảo :

– Anh hãy lấy một tờ mua cho tôi tờ báo còn tờ kia thì mua thuôc lá.

Bệnh nhân thứ hai được ông dặn :

– Anh hãy đến hiệu thuốc xem tôi có ở dó không ?

Hai người điên gặp nhau trên đường. Người thứ nhất nói :

– Đằng ấy này, ông bác sĩ của chúng ta đúng là một tay tâm thần, ông ta đưa, tớ hai tờ giấy bạc mà không dặn dùng tờ nào để mua báo, còn tờ nào để mua thuốc lá.

Người thứ hai nói :

– Thế cũng chưa đên nôi nào. Cái lão hâm ấy phải tớ đi kiểm tra xem ông ta có ở hiệu thuốc không,? Chẳng lẽ ông ta không thể gọi đây nói đến đấy và tự tìm hiểu lấy hay sao ? !

NỔI TIẾNG

Nhà văn nổi tiếng Thác-ke-rây trong khi vui vẻ với bạn bè, đã kê một chuyện giai thoại vê minh như sau:

“Cỏ lần tôi đên Xanh Lu-i và trong khách sạn tói nghe thây một nhân viên phục vụ nói với một người bạn đồng nghiệp :

– Này cậu có biết cái ông kia là ai không ?

– ‘‘Không”. – “Đó là, ông Théc-ke-rây nổi tiếng đấy” –

“Thế ông ta nổi tiếng về cái khoản gì ?“

– Cái đó chỉ có trời mới biết !”.

KHÓ TÍNH

Một thực khách Anh Cát Lợi sau khi nghiên cứu kỹ thực đơn trong một nhà hàng, đã bảo bồi bàn :

• Tôi muốn ăn món lợn sữa. Thịt phải thật nạc, chỉ có một lớp mở mỏng thôi. Thịt quay không được già lửa quá, nhưng cũng không được non lửa. Thịt không được cứng, nhưng cũng không được quá mềm.

– Dạ tôi hiểu ‘ người bồi bàn đáp nhưng ngài chưa chỉ rõ nhóm máu của con lợn sữa đó ạ !

Sưu tầm

SK và ĐS năm 1996