Chữ Tế trong Y Tế

vui cái vui của người chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi kể công.

Hai người Việt Nam này còn đang hiện diện hàng ngày với chúng ta, đó là hai tên đường phố ở Hà Nội.

Xem thế, chữ Tế trong Y Tế, to lớn biết chừng nào. Và nó cũng to lớn biết chừng nào trong Y Đức, trong Y Đạo, làm sao mà thù lao một lạng vàng, một căn nhà, một thùng bia, một chiếc xe của người bệnh trả công…. sánh được.

Chợt nhớ đến những năm cuối thế kỷ trước đầu thế kỷ này, mấy bà Phước, dù phải theo chân đám quân đội thực dân, nhưng các bà lại chỉ làm điều thiện, chỉ biết cứu người, chỉ vì sinh linh khô ải, chỉ với tấm lòng nhân ái… đã lập nên căn nhà bằng tre nứa phát thuốc cho dân nghèo noi bãi đất bỏ hoang, mà sau này trả thành nhà thương làm phúc : nhà thương Phủ Doãn, và nay là bệnh viện Việt Đức.

Ngành Y Tế Việt Nam đang chuyển mình để xứng đáng là một ngành đặc biệt : cứu người. Ở đây không có chuyện làm ăn thu lợi, không có chuyện mưu cầu sênh sang áo mũ, xe hơi nhà lầu, quyền cao chức trọng… không có chuyện bán lương tâm lấy đồng tiền, lấy tính mạng người khác làm chiếc cầu thang leo lên hướng thượng… Dân đang mong chừ lắm lắm. Y ĐỨC đang được đặt ra một cách cấp bách.

Cách đây mườii năm, một lần người viết bài này trong đêm khuya, đưa người anh có tuổi bị gẫy xương vào bệnh viện Việt Đức. Được chụp X quang ngay, bó bột ngay. Lúc chỉ còn một bác sĩ và ngườị nhà bệnh nhân, đưa ít tiền như là thù lao riêng, nhưng nói thế nào, người bác sĩ phòng X quang ấy cũng chỉ cười mà nhất định không nhận. Tiếc là lâu ngày, quên mất tên con người thầy thuốc liêm chính ấy. Thật đáng khen biết chừng nào.

Cũng lại nhứ đến việc sau đó mấy năm, vào khoảng 1987 lại phải đưa người thân vào bệnh viện này để mô. Hành lang kín chỗ, toàn người nhà bệnh nhân vào để làm hộ lý, vì bệnh viện không có hộ lý, hoặc có thì không có nhiệm vụ coi sóc bệnh nhân, kể cả việc thay quần áo, cho bệnh nhân ăn uống…

Người mang giường xếp, người cắp cái chiếu, có người cẩn thận, mang cả cái chải vào để quét hành lang trước khi rải chiếu mắc màn qua đêm. Mỗi sớm tinh mơ, khi thành phố eo óc tiếng gà như một vùng nông thồn hẻo lánh (lúc đó cả thành phố có phong trào nuôi gà nhốt), thì toàn bộ các sân cạnh phòng bệnh nhân, có trăm ngàn ánh lửa bập bùng nổi lên hòa vào màn khói mịt mù.

Những hòn gạch kê lên, những chiếc bếp “dã chiến” xuất hiện. Đủ loại cà mèn, nồi nhôm, nồi đất, ống bơ… để chuẩn bị bữa ăn cho bệnh nhân và và những người trông nom bệnh nhân. Bệnh viện cũng làm ngơ vì có nơi nào, lo chuyện ăn uống này đâu. May mà nghe nói, gần đây, chuyện ăn uống dinh dưỡng cho bệnh nhân đang phục hồi trở lại. Phục hồi chứ

SK và ĐS năm 1996

Cứu người

rời bỏ giàu sang phú quý ở nước nhà, đến Đông Dương sống với ngườí nghèo khổ nhất và chết vì bệnh ở vùng núi Tây Nguyên ấy đã cứu được bao nhiêu vạn sinh linh trong bệnh tật ?

Nầm 1945, Bác sĩ Trần Văn Lai cho kéo đổ hết các tượng đồng, đau tích cua che độ thực dân. nhưng ông vẩn giữ lại pho tượng đòng của Pasteur, đến nay rêu phong, mưa gió, vườn hoa Pasteur vẫn còn bức tượng bán thân con người vĩ đại, cả nhân loại phải biết ơn ấy, và cũng là sự biết ơn của người Việt Nam, ta có thể một lúc nào dạo bước công viên, cúi chào, chiêm ngưỡng con người đã về vớí thiên thu, nhưng vẫn sống mãi trong lòng người, không hề làm nghề cứu người để mưu cầu danh lợi cho bản thân mình.

Bác sĩ Yersin, ngưòi phát hiện ra cao nguyên Lâm Đồng, cha đẻ của thành phố mộng mơ, sương khói Đà Lạt, nhưng sự vĩ đại của ông không phải là việc ấy. Ỏng đã hết mình cho việc cứu người. Sống ở Nha Trang rồi chết ở Nha Trang. Đến nay, người ta còn lưu truyền nhiều huyền thoại về người thày thuốc lừng danh này, về “ông Tây” này, và suốt bao năm nay, vật đổi sao dời, ngôi đền thờ ông, do người dân bình thường lập lên, chỉ là căn nhà nhỏ ở Nha Trang, vẫn hương khói bốn mùa. Người Việt Nam đánh đổ chế độ thực dân Pháp, nhưng vẫn lập đền thờ một người Pháp. Đó chẳng là điều kỳ lạ đó sao ? Và ở Hà Nội vẫn có đường phố mang tên ông, nơi có viện nghiên cứu Pasteur.

Tuy nhiên, với người Việt Nam, thì lòng dân không phai mờ những tên tuổi khác, những người mang dòng máu Tiên Rồng. Lạc Long, âu Lạc, âu Cơ. Đó là Tuệ Tĩnh và Hãi Thượng Lân Ông.

Tuệ Tĩnh (1330 – ?) người cẩm Giàng Hái Dương, có thời đi tu, quây vườn chùa làm vườn tràng thuốc Nam để cứu bệnh cho dân, là người ffầu tiên có ý thức xây dựng nền y được dân tộc. Còn Hái Thượng Lân Ông (1724-1791), “ông già lười trên biển* ấy là ai ? Lê Hữu Trác, một thày thuốc, một nhân cách lớn, vì quê ở vùng Hồng Châu, tức Thượng Hồng và Hạ Hồng (vùng Hải Dương Hải Phòng ngày nay), thời đó đã là duyên hải, còn vắng vẻ nhiều. Quả là ông có lười thật* nhưng là người về danh về lợi, bỏ quan treo ấn, khước từ bổng lộc, tôn phong… để đi vào con đường cứu nhân độ thế, lấy việc chữa bệnh cho ngưòi làm lẽ sống. Con người đa tài và cũng đa tình này (ông còn viết văn, làm thơ, còn có mối tình sau mấy chục năm mới gặp lai nhau và khi về già, còn đền ơn đáp nghĩa theo yêu cầu của người yêu cũ – một vị sư già  một cổ quan tài, để nói tấm lòng mình không bao giờ- phụ nhau, lúc nào cũng sẵn sàng làm theo lỗi người yêu dấu…).

Ông lười danh lợi, nhưng không hề lười cứu giúp : Ông từng giữa đêm hôm khuya khoắt từ chối một lệnh Chúa đòi vào cung chữa bệnh không nguy cấp lắm để đi chữa cho một cô phụ nghèo bị bệnh hiểm nghèo nguy cấp trong thôn quê. Ông từng viết : “Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên báo vệ sinh mạng con người ; phải lo. cái lo của người, và

SK và ĐS năm 1996

Đạo tế

Đạo tế là gì, vì sao chỉ có ngành y mới có chữ Tế đi liền, mà không có ngành công tế, Nông Tế ? Tế là cứu, nhưng Cứu tế, Tế độ, Tế cắp… thì ra ngành Y chính là một ngành chuyên cứu giúp con người từ xưa tới nay vậy. Cũng là duy danh định nghĩa cho vui thế thôi, chứ ai chả hiếu như thế. Cũng do đó mà Y Đức: được đặt ra thật đặc biệt trong ngành Y Tế. Đã cứu người thì người đi cứu ấy không bao giờ đặt ra câu hỏi cho mình rằng cứu người để rồi mình được cái gì được tiền tài hay danh vọng, địa vị, lợi lộc… Một người thấy kẻ sắp đắm chìm, đang chới với, dám lao xuống dòng nước cuồn cuộn kia lôi kẻ sắp chết đuối lên, có khi còn nguy hiểm đến cả tính mạng mình, hẳn không bao giờ” có ai nghĩ rằng cứu xong, mình sẽ được ngườí nhà nạn nhân mang đến tặng mấy cây vàng, thúng thóc, hay được gắn cái huân chương lên ngực áo, chiếc bằng khen treo trên tường… Cứu người là vì người được cứu chứ không phải vì người đi cứu. Thế thôi.

Trong lịch sứ nhân loại, đã có những con ngưòi khổng lồ, nói cách khác, những con người lừng danh của ngành Y, đáng làm thày cho muôn đời. Người bác sĩ trước khi ra trường bao giờ cũng phải tuyên đọc lời thề Hypocrate (460 trước công nguyên) của Hy Lạp cổ đại. Lời thề dài, chỉ xin trích mấy chữ :

… “Tôi sẽ coi thầy học của tôi ngang hàng với cha mẹ… Tôi sẽ chi dần mọi chế độ có lợi cho người bệnh… tránh mọi điều xấu và bất công… Sẽ suốt đời hành nghề trong vô tư và thân thiết… Dù vào bất kỳ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích người bệnh… vu và…”

Không hiểu ở phương Đông, Biên Thước (chưa rõ năm sinh năm mất) Hoa Đà ( ? – 220) có được; nghe đến lời thề của Phương Tây ấy không ? Nhưng mấy cố nhân này sau mấy nghìn năm vẫn là tấm gương sáng chói không cho riêng ngành Y. Chỉ biết Biển Thước người nước Tấn sinh vào khoảng thế kỳ thứ V trước công nguyên nói một câu còn lưu thiên cổ “Việt Nhân này (tên của ông) không có tài làm sống lại ngườỉ đã chết được đâu, mà chỉ có khá năng làm cho người đáng sống khỏi bệnh thôi… ” Còn Hoa Đà thì nhiều người còn nhớ, đã cạo xương chữa vết thương cho Quan Vân Trường, định mổ sọ chữa cho Tào Tháo và bị Tào Tháo nghi ngờ, nên giết hại.

Làm thầy thuốc để cứu người, dám đem cả tuổi thanh xuân và cuộc sống của mình ra “cứu chữa” cho nhân loại, chúng ta nhớ đến Pasteur và Yersin, hai bác sĩ không còn là của riêng nước Pháp mà là của cả loài người. Pasteur (1822 -1895), Yersìn (1863 – 1943) người học trò ưu tú cùa Panteur người thì chỉ với một nửa bộ não còn lại của mình, người thì

SK và ĐS năm 1996