Nỗi buồn

với cái dáng đĩnh đạc, ngực cáng về phía trước, đã vào đến cửa phỏng khách nhỏ xính và sang trọng của họ Mai.

Người ta thường nói đùa : Lỗ Bình lúc nào trông củng như một cồ vật mới khai quật được ờ một tháp ngà đã hoang phế nhíều năm. Quả là cũng có phần dúng thật ! Chàng vẫn khoác một bộ âu phục cũ rích, vẻ như có phần nhàu nát, màu tro xám. Và trước ngực vẫn thấy phất pha một cái cà vạt to khổ. Chỉ khác là, không như thường ngày, thần thái của anh chàng hôm nay vẻ hiên ngang lắm. Những bước đi chắc nịch dầy dáng con nhà võ chuyên nghiệp, hai tay nắm lại với nhau như sắp muốn tuyên bố một “điều luật* nào đó với ông chủ nhà này. Hãy chờ xem chàng họa sĩ sẽ chơi bài gì ?

TÔN LIẾU HỒNG (Trung Quốc) – SK và ĐS năm 1996

CHU XUÂN GIAO dịch- SK và ĐS năm 1996

Nỗi buồn

Đêm qua ra đứng bờ ao,

Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ

Buồn trông con nhện chăng tơ…

Ca dao

Nôi buồn mang tính bản thể học, nó là của kiếp người và gắn với kiếp người. Theo nhà phân tâm học Engel thì lo hãi và trâm nhựợc là những dáp ứng cơ bản có nguôn gốc bẩm sinh vầ ngay từ đầu đã là các phương thức đáp ứng của con người trước mọi hiểm nguy”.

Nỗi buồn xuất hiện rất sớm, ngay từ tâm bé và đặc biệt rất dễ nhạy cảm và bộc lộ ở tuổi thanh thiếu nỉên. Nỗi buồn cũng có thể phát sinh trong các trường hợp như tuổi già, lúc ốm đau, khi nơi đất khách quê người (cái buồn xa xứ nostalgic), tình huống thất bại nhân cách thụt lùi, nghịch cảnh không thể vượt qua.

Theo Freud, tang tóc là nỗi xúc động bình thường, nó dễ được khắc phục sau một thời gian, không cần làm xáo trộn nó, vả chăng còn có hại Nỗi buồn cần được tôn trọng như trong một cầu thực

“Hest brise, n’y touchex pas Ị”

(Xin đừng đụng đến, da rạn nứt rồi) của Sully Prudhomme (1).

Nỗi buồn là một tình cam kín dáo, riêng tư, tiềm ẩn, song có khi nó, trở thành một cảm xúc mãnh lỉệt, chứa đầy năng lượng dẫu không bật thành lời nhưng lại mang trong mình một lực đây không thô kìm nén đặng thăng hoa thành những tác phẩm tha ca giàu ma lực truyền cảm va sức cuốn hút. Và, thật kỳ lạ, những nỗi buồn thăng hoa ấy lại phát ra những làn sóng “phi điện từ”, không có giá vật chất mà làm rung động, làm thức tỉnh, làm xáo động nhưng nôi buồn “đồng thanh”, “đồng khít vẫn đang chìm sâu trong cõi vô thức của hàng triệu người đọc, người nghe…Phải chăng, không phải điều nghịch lý, những bài thơ buồn, những ca khúc buồn, trong những hoàn cảnh cụ thể, đã có sức hấp dẫn không thể cưỡng lại do nơi không làm tăng nỗi buồn mà, trái lại, làm vơi đi những nội buồn đang đẩy con người tiến gần…đến bờ vực trầm nhược và có khi tội lỗi. Đó là lý do cắt nghĩa một sự kiện nghịch thường ; trong những giày phút ác liệt tại mặt trận Quàng Bình (thời chống Mỹ), chiến sĩ ta thích nghe những câu thơ buồn của bà huyện Thanh Quan.

PV -SK và ĐS năm 1996

Như thấy tim mình bị một thỏi sắt nặng đeo vào

trở nên nặng trìu và dài dằng dặc với các nhà số 34 và 43.

Họ sợ hãi run rảy, luôn mồm kêu : muốn chết, sống mà làm gì nữa ! Trong lúc ẩy, họ chỉ còn biết thắp hương, cầu khấn, rồi lại khóc với nhau.

Bình tĩnh hơn, họ lại bối bài, bói chữ, đi báo cảnh sát, dăng tin trên nhật trinh treo thưởng…

Ba ngày dã trối qua, vẫn khống có mẩu tin gì về vụ mát tích tập thể. Ngài Liễu dã tự tuyệt thực suốt máy ngày ấy. Cái thân hỉnh đẫy đà của ngài tưởng như phải xọp đi đến một nửa. Thường ngày, ông vẫn quen dùng cách này làm hình phải cho dám gia nhân, thì nay, ông lại tự phạt mình, và hình như những lúc như thế này, càng được đói, người ta lại càng không thèm ăn ! Cho nên trông ông ta tiều tụy như vừa trải qua một trận sôt rét ác tính thập tử nhất sinh.

Thế còn quí ngài Mai Vọng Chỉ ở tiểu hoàng cung mang số 34 thì sao ? Chà, cũng chẳng khá hơn chút nào. “Đại vương” trong nghề kinh doanh đồ cũ này thường ngày vẫn tự xưng là tín đô của đạo Nho, ấy vậy mà nay ông ta lại dâm ra như nghiện cái thánh hiệu Mô-ha-mét, vị tiên tri đầy quyền uy, khác với Khổng Tử và Mạnh Tử cùng các môn đồ. ông ta cứ lầm rầm cầu nguyện cái tồn ấy như kẻ mất trí.

Đương khi ấy, như trời hạn được mưa, chiều ngày thứ ba dã có một tí n vui bay tới. Nó sà vào cửa nhà mang sô 34 trước. Khoảng 3 giờ chiều hôm ấy, có một đứa ở nam hổn hển chạy từ ngoài vào, tới trước mặt Mai “tiên sinh” mà báo rằng :

* Dạ thựa… dạ thưa… ông họa sĩ mất tích ở nhà mang số… 33… lại dột nhiên trở về ! Ông… ấy muốn dến gặp ông nhà ạ !

Họ Mai tưởng như thấy tim mình bị một thỏi sắt nặng đeo vào “ình” một cái vì cái tin kia thực đột ngột, vốn tự khen mình có cái tính đẹp như Tào Tháo, ông ta liền như lường trước được điều gì đó không ổn. Liễu nhìn đứa ở, thấy nó có vẻ mừng quýnh, ông lại rụt hẳn cái ỷ ngờ vực, vui sướng nghĩ rằng : tay họa sĩ này bị mất tích cùng với con gái yêu của ta, bậy giờ hắn muôn đến gặp hẳn là có tin tức gì quan trọng lắm dây ! ông bạn Nam Kinh chỉ kịp nghĩ đến dó là thấy hả hê hêt mức, liền buột miệng, hlnh như mừng quá mà líu cả lưỡi:

– Mời… mời… mời vào ! Vào I

Và chàng Du Thạch Bình

PV- SK và ĐS năm 1996

Vốn yếu tim hoặc yếu thần kinh

Lúa nương, có lúa tẻ và lúa nếp.

Lúa nương tẻ, hạt gạo trắng xanh, lãn tăn như gạo tám ểr ruộng nước, nhưng dẻo hơn. Lúc còn non, làm cơm được. Ặn lúc com vừa sởi ra, hao hạo cơm nếp mà không ngán. Nguội đến dâu, deo đến dấy chứ khàng khỏ. Nhai kỹ, ngòn ngọt như sữa dòng dòng. Ăn đến tức cả bụng mà vẫn còn thèm. ‘Đem gạo nương tẻ tra vào ông nứa, lam lên, càng ngon, nhung không dể lậu được như lam gạo nếp. Lúc đói, ăn với muối hoặc, măng muối chua cùng ớt chỉ thiên, không cần đến thịt, cá. Gạo lúc vừa giã xong, thơm thoang thoảng như gạo tám. Ăn bữa nào, cho thóc vào cối giã gạo nước, giã lây gạo bữa ấy, ngửi thấy, mùi cơm, người đang ôm cũng muốn .ăn.

Lúa nương nếp : Hạt gạo như hạt nếp ruộng nước, nhìn kỹ thấy tròn và ngắn hơn, khi ăn thấy dẻo hơn, dẻ nguội, lâu bị khô hơn. Thơm hom và hạt cơm lúc dở ra, anh ánh ánh xanh khói lúc bốc hơi chứ không trắng nõn. Khi nguội, ánh xanh ấy không còn. Cơm nếp nương được đồ bằng thứ chõ làm bằng -đốt cày hương có đường kỉnh trên 20cm hoặc chõ Ịàm bằng khúc cây, khoét rất khéo. Lúc dỡ cơm, vừa quạt cơm vừa, nắm ăn cho khỏi dính tay và không ngán. Lúc nguội hẳn, mẻ cơm chắc như xôi nén. Khi ăn, không thấy có vj ngòn ngọt như gạo nương tẻ. Nhưng không bết và lâu bị khô hơn khi làm bằng ông nứạ. Cơm nếp lam để hàng tuần. Ăn đến đâu, cắt từng khúc nứạ ra, rẽ lấy cơm mà ăn. Nếu dỡ khỏi ống nứa thì phải gói bằng tó chuối non hơ lửa than để giữ dược lâu. Người ăn khỏẹ, giòi lắm ăn hết một gang tay cơm nếp lam là no. No lâu.

Giờ để bào vệ rừng, không còn mảy nơi tròng lúa nương nửa. Nhưng hương vị cơm nương vẫn nồng nàn chia sang những hạt gạo, hạt cam hôm nay trên khắp nẻo núi rừng đất nước quê hương.
Hiền Hoa- SK và ĐS năm 1996

Tưởng rằng lâu ngày sẽ làm người thôn Bình quên dần đi hai vụ mát tích đầu tiên, nào ngờ chưa kịp quên thì vụ thứ ba đã xảy đến. Vụ này càng làm người ta hãi hùng hơn. Vài chủ nhà vốn yếu tim hoặc yếu thần kinh đã có ý định chuyển nhà, họ sợ rằng một ngày không xa, con ma vô hình từ nhà mang số 33 sẽ rờ đến họ.

Nhưng, cảm thấy rợn tóc gáy nhất vẫn là hai nhà ở sát ngôi nhà ma quái: nhà mang số 34 và nhà mang số 43, đồng thời đó cũng là những gía chủ đương có người mất tích.

Ngài Liễu bệ vệ cứ môi lần mường tượng lại vết máu và cái răng to như bàn cuốc ớ ngôi nhà ấy là toàn thân lại bủn rủn, vã cả mồ hôi.

Bọn trẻ vẫn bặt vô- âm tín, cho dù người ta đã sục sạo khắp nơi bằng mọi cách.

Hai mươi tư tiếng đồng hồ một ngày

PV- SK và ĐS năm 1996

 

Nhà thương miễn phí cho người nghèo

Nhà thương miễn phí cho người nghèo

Phải đảm bảo mặt bằng trong chăm sóc theo điều kiện chung hiện có. Đó là một mặt bảng sao cho người dù nghèo đến đâu khi ốm đau đến bệnh viện củng được chữa trị, được chăm sóc đây đủ vói tinh thần trách nhiệm, không đến nỗi quá thiếu về thuốc men, ỵ dụng cụ và không được thiểu những thứ này nêu đó là những trường họp cấp cứu, những bệnh nguy hiêm đe dọa đên mạng sống của người bệnh. Muôn vậy một mặt ngành y tẻ phải đưọc cấp kinh phí cho phù hợp.

Trong điều kiện hiện nay mức chi phí bình quân .về ỵ tế cho một ngựời dân chuẩn đây Ị USD thì chắc chắn còn cần bổ xung thêm nữa. Mặt khác, ngành y tế phải bằng mọi biện pháp tổ chức có nhà thương miễn phí riêng cho người nghèo. Những nơi chưa có điêu kiện này thì nên có các khoa riêng hoặc khu vực riêng điềụ trị cho người nghèo, không để người có khả năng đóng góp một phân viện phí nằm chung một nơi với các bệnh nhân miễn phí, dễ tạo điều kiện cho nhân viên y tế “vô tình” có sự phục vụ không công bằng giữa các đối tượng có diều kiện kinh tế cao thấp khác nhau, phần, khác đó cũng là tránh để người bệnh nghèo có mặc cảm bị phân biệt đôi xử. Cũng không thể thiếu được vấn đề giáo dục tinh thần thái độ phục vụ bệnh nhân theo lời Bác Hồ đã dạy “thầy thuốc như- mẹ hiền” chỗ nhân viên y tế.

Đối với nhóm bệnh nhân ở miền núi, vùng sâu, vùng xa thì biện pháp để đảm bảo sự công bằng là phải bằng biện pháp tổ chức, hành chính không để có bản làng, xóm, xã “trắng” về y tế có biện pháp giáo dục tư tưởng chính trị và bảng chế độ đãi ngộ, bằng các chính sách ưu tiên, ưu đãi v.v. đề người cán bộ.

PV – SK và ĐS năm 1996

Nhóm những người mắc bệnh xã hội

2 – Những người sống ờ miền núi, ở vùng sâu, vùng xa.

Những người này đại bộ phận là các đằng bào dân tộc ít người. Có những người, những bộ tộc, những bần làng thiêu ăn môi năm 9-10 tháng, áo quần không đủ mặc. Bộ tộc Đan Lai ở huyện Cọn Cuông Nghệ An có cô gái tuổi dậy thì không một mảnh vải che thân, khách lạ đến nhà chỉ còn biết chạy ra rừng “trốn cái xấu hổ”. Ngoài những người này còn có những người nghèo phiêu bạt từ các noi khác đến do không còn khả năng tồn tại ở quê hương cũ. Nhóm những người này tỷ lệ bệnh tật rất cao. Ví dụ về bệnh lao tỷ lệ mắc lao của họ cao gấp 80 – 100 lần so với các vừng cư dân khác. Màng lưới y tế ở đây chưa hoàn thiện, nhiều bản làng, nhiều xã còn “trắng” về y tế (600 xã).

3 – Nhóm những người mắc bệnh xã hội

Đó là nhũng người bị phong, lao v.v. Bình quân chỉ phí về y tế ợ nước ta đã ít ỏi, sự phân phối cho những người này thường thông qua các chương trình, các Viện) nhiều khi lại chưa phù hợp, ít hơn so với cốc

Phải đảm bảo một bằng Tong chăm sóc theo điều kiện :hung hiện có. Đó là một mặt bằng sao cho người dù nghèo đến đâu khi ốm đau đến bệnh viện cũng được chữa trị, được chăm sóc đây đủ với tính thân rách nhiệm, không đến nỗi quá ;hiếu về thuốc men, y dụng cụ rõ không được thiếu những thứ này nêu đó là những ;trường hợp cấp cứu, những bệnh nguy hiểm đe dọa đến mạng sống của người bệnh. Muốn vậy một mặt ngành y tế phải được cấp kinh phí cho phù hợp. Trong điều kiện hiện nay nhóm bệnh khác hoặc giữa các loại bệnh này vói nhau cũng có sự nhiều ít không đều, chưa phù hợp.

Làm gì để đảm báo sự công bằng trong công tác khám chữa bệnh ?

Đảm bảo sự công bằng trong công tác khám chữa bệnh trong tình hình hiện nay cr nước ta như vậy là rất lớn, rất khó khăn nhưng cũng rất bức xúc, rất khẩn thiết và rõ ràng không phải chỉ là vấn đề kinh tế mà bao hàm cả chính trị, kinh tế, tô chức, giáo dục v.v…

PV – SK và ĐS năm 1996

Sự không công bằng trong khám chữa bệnh

100.000 đ, 200.000 đ thậm chí 300 000 – 500.000 đồng một ngày giường bệnh. Khi đó ở một số nơi có thể thấy có sự khác biệt “tự nguyện” trong việc chăm sóc, chữa bênh : có bệnh nhân được đón tiếp chu đáo ngay từ khi mới vào viện, thăm hỏi, khám xét kỹ lưỡng, được xét nghiệm chụp phim đầy đủ, nơi nằm giường chiếu, khăn trài giường bàn đệm sạch sẽ, nơi nằm rộng thoáng có quạt máy về mùa nóng, lò sưỏi về mùa rét, thậm chí có cả điều hòa nhiệt độ, được dùng những thuốc đắt tiền, quý hiếm, được truyền đạm, truyền dịch, có thể chọn người mố xẻ, đỡ đẻ… cho mình, luôn được nhân viên y tế phục vụ, chăm nom, khám xét. Có người bệnh ngirqrc lại, vào viện chẳng có ma nào hướng dẫn chăm sóc, chỉ được khám xét qua loa, đối xử hờ hững, thiếu niềm nở, phục vụ chểnh mảng, thiếu tinh thần trách nhiệm, thuốc men sor sài, có đau đón, cấp cửu gọi mải củng thấy ai tói… Như vậy, trong nền kinh tê thị trường rõ ràng có thê có sự không công bằng trong công tác khám chữa bệnh và người bị đối xử không công bằng đó không phải là người có thê chi trả 100.000 – 200.000 đằng hoặc 300.000 – 500.000 đồng một ngày giường bệnh.

Những ai là đối tượng của sự không công bằng trong khám chữa bệnh ?

Trong nền kinh tế thi trường hiện nay sự không công bằng trong khám chữa bệnh rất dễ xảy ra vớí những nhóm người trả 100 000 – 200.000 đồng hoặc 300.000 – 500.000 đồng một ngày giường bệnh.

Những ai là đối tượng của sự không công bằng trong khám chữa bệnh ?

Trong nền kỉnh tế thị trường hiện nay sự không công bằng trong khám chữa bệnh rất dễ xảy ra với những nhóm người sau :

1 * Những người nghèo

Các tổ chức của Liên hiệp quốc có đại diện ờ Việt Nam là Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Quỹ dân số LHQ (UNFPA), Quỹ Nhi đồng LHQ (ƯNICEF) đánh giá tỷ lệ người nghèo ờ Việt Nam là 20 -50% dân số (15 * 37 triệu người) trong đó ít nhất 20% dân số (15 triệu người) rất nghèo cẩn được quan tâm đặc biệt. Tổng cục thông kê tính những người có thu nhập không đảm bảo được mức song 2100 ca lo/ngày (tính thành tiền mức thu nhập hàng tháng 60.000-70.000 đồng)  được kể như nghèo. Ngành lao động thương binh xã hội thi tính ở nông thôn mức thu nhập quy ra gạo dưới 13 kg, ở thành phá dưới 15 kg là nghèo. Dù quy thế nào, tính thế nào thì sổ người nghèo trong xã hội ta hiện nay củng rất lớn, không thê dưới vài chục triệu được- Như vậy, đảm bảo sự cổng bảng trong khám chữa bệnh cho những người này cũng là yêu cầu rất lớn, rất bức xúc.

PV- SK và ĐS năm 1996

 

Sự lựa chọn của lương tâm và trí tuệ

TIM LỢN GHÉP CHO NGƯỜI

Một nhóm bác sĩ dưới sự hướng dẫn của bác sỹ Piaf ở trường đại học Đuvski bang Bắc Califonia đã thực nghiệm để ghép tim lợn. Nhóm này ghép cấy tim lợn và để thử nghiệm tìm ra gen cấy ghép người loại về mặt di trụyền giống người. Theo lý thuyết thì tim ghép này chỉ hoạt động sau 90 phút, nhưng chúng đều sống được và sống được sau hơn một ngày mới chết. Các bác sỉ tìm ra loài thuốc đặc hiệu tăng hệ miên dịch, và trong khi phẫu thuật virat cưa lọn có thể xâm nhập vào người. Các nha khoa học tin răng 2 năm nửa trái tím lợn có thể ghép được cho người. Hiện nay ờ Mỹ co tói 40 nghìn người cần ghép tim, “nhưng chí cổ gần 500 nghìn người cho tim. Do đó phẩn lớn đều chờ chết

CL – SK và ĐS năm 1996

Sự lựa chọn của lương tâm và trí tuệ

“có sự không công bằng trong công tác khám chưa bệnh không ?”

Xây dựng một đất nước “dân giàu, nước mạnh, xả hội công bằng, văn minh” là mục tiêu phấn đấu của Đảng và Nhà nước ta. Xã hội công bằng ở đây tức là mọi ngườì dân không phân biệt giâu nghèo, xuôi ngược tâng lóp xã hội v.v đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lọi.

về quyền lợi, Nhà nước tạo điều kiện cho mọi người dân có com ăn, áo mặc, được học hành, được chữa bệnh khi ốm đau.

Trước thời kỳ mở cửa, Nhà nước bao cấp toàn bộ khâu khám chữa bệnh cho mọi người dân, coi đó là một trong những biểu hiện tính tru việt của chế độ. Tất nhiên, có một số người ở một mức Bộ nào đó được Nhà nước quy định có sự chăm sóc sức khỏe chu đáo hơn. Nhưng, nói chung việc khám chữa bệnh hồi đó là “được” và không có điều tiếng gì, ngành y tế luôn luôn đirợc biêu đưtrng khen ngợi. Từ khi cố sự đôi mới nền kính tế, kinh tế phát triển rất nhanh nhưng nhửng ngành không sản xuất, kinh doanh không làm ra tiền, tồn tại chủ yếu dựa vào kình phí được cấp như y tế, giáo dục thì gập rắt nhiều khó khản, nền kinh tể thị trường đă từng bước thay đổi rất nhiều quan hệ gíữa thầy thuốc và bệnh nhân. Trước đây, thầy thuốc là người làm việc phúc đức, thay khen ngợi. Từ khi có sự đổi mới nền kinh tế, kinh tế phát triển rất nhanh như những ngành không sản xuất, kinh doanh không làm ra tiền, tồn tại chủ yếu dựa vào kinh phí được cấp nhự y bế, giáo dục thì gặp rất nhiều khó khăn, nền kỉnh tế thị’ trường đã từng bước thay đổi rất nhiêu quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân. Trước đáy, thầy thuốc là người làm việc phúc đức, thay mặt nhà nước và xã hội chăm lo cho sức khỏe người dân ở vị trí ban phát (bác sỉ “cho đơn. “cho” thuốc). Trong nền kinh té thị trường đối với người bệnh nghèo, miễn phí, và chừng mực nào đó vói người có thẻ bảo hiểm y tể người thầy thuốc vẫn ở vị trí như trên, nhưng vài người đóng góp một phần viện phí thì quan hệ gỉữa thầy thuốc và bệnh nhân không phải như thế nửa, nhất là người bệnh lại có nhiều tiền có khả năng chi trả

PV – SK và ĐS năm 1996