Thương truật

Thương truật là một vị thuốc bắc, được nhập trong cùng với bạch truật, vào nước ta từ những năm 60. Nhưng, chưa có điều kiện phát triển để tự túc. Thương truật (Atractyiodes lancea (Thunb) DC) thuộc họ Cúc (Asteraceae), có tên khác là mao truật, xích truật, là một cây nhỏ, sống lâu năm, cao khoảng 60cm, có rễ phát triển thành củ rễ nhỏ không đều, xếp thành chuỗi. Thân thoẳng, ít phân nhánh Lá mọc so le, gần như không cuống hoặc cuống rất ngắn; lá ở gốc chia 3 thùy, thùy giữa lớn hơn nhiều so với hai : thùy bên; lá phía trên hình mác nguyên; mép lá có răng cưa nhọn. Cụm hoa nhỏ và mảnh, hình đầu, bao bọc bởi nhiều ỉá bắc xếp lợp; hoa màu trắng hoặc tím nhạt, những hoa phía ngoái iả hoa cái, hoa phía trong là hoa lưỡng tính; bầu có lông mềm. Quả khô.

 
Rể củ thương truật, thu hoạch vào tháng 7-8, đào về rửa sạch, cắt bỏ rễ con và gốc thân còn sót lại, phơi hoặc sấy khô. Không cạo bỏ vỏ ngoài vì như vậy làm giảm tỷ lệ tinh dầu của dược liệu. Khi dùng, thái rẽ củ thành phiến, tẩm nước vo gạo cho ướt đều, cho vào chõ đồ chín, phơi khô hoặc cho vào chảo sao nhỏ lửa cho hơi vàng là được. Dược liệu đã chế biến có hình chuỗi hạt, to nhỏ không đều, thường cong queo, mặt ngoài nhăn nheo, màu nâu xám hoặc nâu đen, có vân ngang, chất cứng chắc, dễ bẻ gãy, mặt cắt màu vàng nhạt, có nhiều đốm dầu, có mùi thơm mạnh đặc biệt, vị cay, đắng, tính ấm, có tác dụng mạnh tỳ vị, tán uất chữa thổ tả, tiêu chảy, bụng trướng đau, thủy thũng, kiết lỵ. Dùng riêng, nhưng thường phối hợp với nhiều vị thuốc khác theo công thức sau:
 
– Chữa sôi bụng, tiêu chảy: Thương truật (12g), bạch biển đậu (8g), trần bi (8g), cam thảo (4g), hậu phác (4g), một thông (3g). Tất cả phơi khô, sao vàng, tán nhỏ, rây bột mịn. Người lớn: ngày uống 8g chia làm hai lần; trẻ em từ 3 đến 5 tuổi, ngày uống 2g; 6-10 tuổi, 4g; 11-14 tuổi, 6g (kinh nghiệm của Bệnh viện Bắc Cạn).
 
– Chữa đau bụng, luôn mót rặn, kiết ly ra máu mũi:
 
Thương truật (12g), hoắc hương (8g), bán hạ chẻ (8g), hậu phác (6g), trần bì (6g), mộc hương (6g), sa nhân (6g), nhục quế (4g), đại táo (4 quả), gừng (4g). Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml uống làm hai lần trong ngày.
 
Ngoài ra, thương truật sắc uống với quế chi, bạch thược, phòng phong, tri mẫu, phụ tử, ma hoằng, gừng tươi, cam thảo còn dùng để chữa đau khớp.
 
Dùng ngoài, rễ thương truật đốt xông khói để trữ độc, diệt muỗi, sâu bọ hại.

Hữu Bảo
Sức khỏe và đời sống năm 1997