Được và mất trong việc đầu tư thu hút nước ngoài vào bệnh viện P3

Có thể nhận được sự tôn trọng cần thiết từ một số nhân viên ngành y tế…

 
Và một vấn đề chúng tôi đang thật sự lo ngại là tâm lý thiếu bình tĩnh của một số giới chức Nhà nước trong các dự án liên doanh. Qua gần 9 năm thực hiện Luật ĐTNN tại Việt Nam, chúng ta đã phải trả giá khá nhiều cho sự nôn nóng như vậy. Đó lá tình trạng thu hút ĐTNN tràn lan không tính đến sức tiêu thụ. Đó cũng là một bộ phận cơ sở sản xuất trong nước đang bị bế tắc đầu ra do sự cạnh tranh quá khốc liệt của các công ty nước ngoài. Và cuối cùng, đó là hàng loạt liên doanh thua lỗ do thiếu lính luận chứng kinh tế trong việc lập dự án, dẫn đến sự thiệt hại đáng kể cho cả hai phía Việt Nam và nước ngoài. Ớ đây, lĩnh vực liên doanh bệnh viện cũng không nằm ngoài những ảnh hưởng đó. Với một tâm lý nóng vội và thiên nặng chủ nghĩa thành tích, một số địa phương có thể sẽ kêu gọị ĐTNN tràn lan vào các bệnh viện, thậm chí tạo sức ép "bắt" bệnh viện phải liên doanh. Trong khi đó, đất nước đang thiếu bệnh viện, thiếu nghiêm trọng. Do vậy, nếu lấy những cơ sở bệnh viện có sẵn để liên doanh tràn lan thì quả là một sự lãng phí quá lớn. Trong khía cạnh này, chúng tỏi gọi là “lãng phí" bởi vì Nhả nước đang không dẻ gì có đủ ngân sách để xây thêm bệnh viện, trong lúc có thể sẽ có hàng loạt bệnh viện được ĐTNN chỉ để phục vụ cho người có thu nhập cao. Và cuối cùng, tất yếu sẽ xảy ra tình trạng: sẽ có một bộ phận bệnh viện liên doanh ế “khách”, trong khi người dân càng khó khăn hơn trong việc đi khám chữa bệnh tại hệ thống bệnh viện Nhà nước đang teo dần lại.
 
Đồng thời, tất cả những vấn đề ĐTNN trên sẽ có thể càng thiếu tính thuyết phục nếu như ngành y tế không chấn chỉnh lại tình hình quản lý ĐTNN sau giấy phép. Cho tới nay, đã có khoảng 18 cơ sở ĐTNN trong ngành. Và trong đó, hiện tượng buông lỏng quản lý nhà nước ở một vài cơ sở đã dẫn đến tình trạng nhập nhèm về tài chính, quyền lợi người Việt Nam bị ảnh hưởng, hoạt động sai chức năng…
 
Đưa ra những dự báo trên, chúng tôi muốn phác thảo đôi nét về những mặt được và mất khi ngành y tế đi vào hướng kêu gọi ĐTNN vào bệnh viện. Nên chăng, chúng ta chỉ nên thí điểm trong thời gian vài năm đầu tại một số bệnh viện trung tâm theo đúng tinh thần ‘Thí điểm hình thức liên doanh giữa cơ sở y tế Nhà nước với nước ngoài cả về y và dược” tại phần II, điểm 8 (chương trình giải quyết các vấn đề văn hóa xã hội) trong Phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 1996-2000 được đưa ra tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII. Nên chăng. Bộ y tế cần xây dựng những chuẩn mực chi tiết cho việc hoạt động và quản Ịý các cơ sở y tế có ĐTNN, và thống nhất với Bộ kế hoạch và đầu tư cùng các địa phương có liên quan về những chuẩn mực đó? Và nên chăng, các cơ sơ có vốn ĐTNN nên là những cơ sở mới (được Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất để hoạt động) chứ không xuất phát từ hệ thống bệnh viện Nhà nước vốn vấn còn khá ít ỏi?

Phạm Chí Dũng
Sức khỏe và đời sống năm 1997