Máu nhân tạo P2

lượng tương đương, oxygept có thể giải phóng ra lượng oxy gấp 3 lần, với điều kiện là bệnh nhân phải được cung cấp oxy đầy đủ.

Một hướng nghiên cứu khác là sử dụng ngay hemoglobin làm chất thay thế máu, chất vận chuyền oxy sẵn có trong tự nhiên. Người ta có thể chiết suất hemoglobĩn từ máu người, hoặc tốt hơn, từ máu các động vật như bò hoặc lợn. Ngày nay, người ta còn sử dụng được cả một số vi khuẩn đã được biển đổi về mặt cấu trúc gen để tổng hợp ra được hemoglobin. So với việc dùng máu, sử dụng hemogỊobin không cần phải quan tâm đến vấn đề nhóm máu, nên tiện lợi hơn.

Nhưng rất đáng tiếc là khi hẹmoglọbin không còn gắn vào các hồng cầu như ở trong máu, thì chức năng vận chuyền oxy của nó cũng không còn nữa. Do dó những phòng thí nghiệm sản xuất ra hemoglobin theo công nghệ di truyền đã phải tìm cách biến đổi các gen để tạo được những dưỡng nôi hóa học vững bền giữa bốn thành phần của phân tử hemọglobin. Dùng loại hemoglobin “tái tổ hợp” này, sau khi đã tinh chế thì không còn nguy cơ gây nhiễm virut nữa. Mặt khác, khi hemoglobin không còn gắn vào hồng cầu thì nó mất khả năng giải phóng ra oxy đã gắn vào nó. Cần phải làm giảm được “ái tính” của nó đối với khí oxy. Nhưng, nếu ái tính này càng yếu thì hemoglobin càng có xu hướng tự oxy hóa bản thân mình. Người ta đã nghĩ đến cách bọc quanh hemoglobin một màng lipit, nhưng giá thành của sản phẩm này tại qua cao, các chuyên gia đã ước tính nếu giá thành của 100 gam hemoglobin nhân tạo này vượt quá 150 dôla, thì sản phẩm thay thế máu sẽ không được thị trường chấp nhận. Các màng lipit kể trên có nguy cơ tích tụ lại trong các mạch máu, tạo ra những đám cặn có thể gây ra các rối loạn tim mạch. Một số cống trình nghiên cứu hiện nay đang tìm cách thay đổi cấu trúc hemoglobin để giải quyết mâu thuẫn giữa ái tính với oxy và hiện tượng tự oxy hóa của hemogiobin nhân tạo này. Nhiều phòng thí nghiệm đang ra sức tìm kiếm dược sản phẩm thay thế máu với giá thành có thể được thị trường chấp nhận như công ty Mỹ Somatogen phối hợp với hãng sản xuất Lilly nghiên cứu về một loại hemoglobin tái tổ hợp ít gây ra hiện tượng co mạch, công ty Northtield ở gần Chicago đưa ra một loại hemoglobin trưng phản, nguồn gốc người có ưu điểm là thời gian lưu lại trong mạch máu lâu hơn với sản phẩm mang tên là Polyheme, công ty đa quốc gia Baxter cũng đang tiến hành nghiên cứu ở Thụy Sĩ về một loạị hemoglobin được biến đổi có nguồn gốc người. Các công ty kể trên đang hy vọng rằng sản phẩm của mình có thể đưa ra thị trường trong năm 1997 tới.

Ngoài mục đích để sử dụng thay thế máu trong những trường hợp xuất huyết, quá nặng và bất ngờ, các sản phẩm máu nhân tạo còn có nhiều ứng dụng “đắt giá” trong khoa ngoại. Chẳng hạn : ở Pháp, mỗi năm các bệnh viện tiêu thụ tới hơn 1,2 triệu lít máụ. Các sản phẩm thay thế máu có thể làm giảm nguy cơ thiếu oxy ở cơ tim trong thời gian tiến hành các phẫu thuật tạo hình ở mạch máu. Các thầy thuốc khoa thần kinh cũng thấy; sản phẩm máu nhân tạo có thể làm giảm các di chứng do tai biên mạch máu não. Còn các thầy thuốc khoa ung thư cũng hi vọng với việc sử dụng các sản phẩm thay thế máu để làm biện pháp tăng cường cung cấp oxy tới các chỗ, từ dó làm cho các u này dễ bị liệu pháp phóng xạ tiêu diệt.

Thày dược trước ngày đưa ra thị trường các sản phẩm máu nhân tạo đã sắp tới, nên viện nghiên cứu quốc gia về sức khỏe ở Mỹ, cơ quan nghiên cứu này tương đương với tổ chức nghiên cứu Inserm ở Pháp, đã tăng ngân sách đầu tư cho các công trình nghiên cứu về sản phẩm thay thế máu từ 3 triệu lên tới 6 triệu đô la.

VŨ NGỌC THÚY (Theo “Science et Vie số 942, 3/96) SK và ĐS năm 1996