Máu nhân tạo

Chức năng chủ yếu của máu là vận chuyển oxy từ phải dến các cơ quan và mô trong cơ thể. Chính các hồng cầu trong máu đảm nhiệm việc vận chuyển này nhờ các phân tử hemoglobin chứa trong đó. Hemogloòin làm cho máu có màu đỏ. là những phân tử có chứa sắt với cấu trúc khá phức tạp, môi phân tử này có 4 phân tử hơn là những chỗ để oxy gần vào và chuyển hemoglobín thành xyhemoglobin có màu đỏ tươi.

Nhu cầu máu trong điều trị rất cao ; ngoài chỉ định cấp cứu trong các trường hợp xuất huyết nặng do chấn thương, bỏng… máu còn cần thiết để điều trị một số bệnh hiểm nghèo. Để kịp thời có lượng máụ cung cấp cho điều trị, ở nhiều nước đã thành lập những “ngân hàng“ máu. Nhưng hiện nay, các ngân hàng này đang đứng trước nguy cơ bị “sập tiệm” với hai lý do chính : – người bán máu ngày càng ít ; nhưng nhất là nguy cơ máu có thế lây truyền nhiều bệnh, trong đó đáng lưu ý là tình trạng nhiễm HIV/AIDS. Do đó, từ lâu nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã lao vào tìm cách chế tạo rạ một chất lỏng có thể thay thế được máu.

Một hướng đầu tiên vạch ra ngay từ đại chiến thế giới thứ hai là sử dụng các dẫn chất pecíluorocacbua với đặc tính âm dung môi hoàn hảo cho các chất khi mà hoàn toàn “trơ” (tức là không gây ra phản ứng gì) về mặt hóa học và học tân chất đầu tiên đưa ra ở trường với tên là ruluosol để làm nhiệm vụ vận chuyển oxy trong cợ thể, có nhược điểm là thải trừ rất khó ra ngoài và gây ra nhiều tác dụng phụ rất khó chịu, như gây ra sốt cao.

Tiếp tục nghiên cứu theo hướng đó trong vòng hai mươi năm, phòng thí nghiệm AHiance Pharmacentĩcal ở miền Nam Calitomi (Mỹ) mới đây đã đưa ra thị trường sản phẩm thay thế máu với tên oxygent, dưới dạng chất lỏng trong suốt, trông như nước, có khá năng thu giữ lại khí oxy trong các phế nang ở phổi và sau dó, qua hệ thống các mao mạch đem phân phối lại đến từng bộ phận trong cơ thế. Về thành phần hóa học, oxygent là một nhũ dịch nước chứa chất pectluobron (tên hóa học là pecíluoro – octyl – bromic); chất này là một tluorocacbua có thể thải trừ dễ dàng ra ngoài cơ thể (dưới dạng hơi qua không khí thở ra ở phổi. Bên cạnh dó, oxygent có chứa các photpholipid,t là những chất hoạt diện mà cơ thể dung nạp dễ đàng. Một ưu điểm khác của sản phẩm này là bảo quản được trong thời gian khá dài (tới một năm rưỡi ở nhiệt dộ 5°c và hơn 4 tháng ạ 30°C) tương đương 40 ngày dối với máu tự nhỉên. Mặt khác, so với các sản phẩm thay thế máu đang được nghiên cứu, giá thành cùa oxygent lại rẻ hơn từ 6 đến 10 lần (100 gam giá khoảng 30 đôla Mỹ).Sau nữa, theo giới thiệu của phòng thí nghiệm nói trên, so với hemơglobin ở cùng một

SK và ĐS năm 1996