Bảo quản và sử dụng thuốc

Trong số các loại thuốc thường dùng có nhiều loại dễ bị phân hủy khi bị ẩm, sức nóng và ánh sáng.

Đế bảo vệ thuốc tránh tác hại do ánh sáng, hiện có nhiều loại bao bì thích hợp: Chai thủy tinh màu vàng nâu. mảng PVC đục hay chí đơn giản hộp bằng cac tòng.

Còn để chổng ấm, nhà san xuất cũng có những loại vật liệu đóng goi thich hơp như: màng PVC + PVDC (giả thành cao) cho ví bấm, giấy nhôm dầy 30 micron (giá thành cao) cho ví xé. chai lọ với nút đệm Kín.

Tuy nhiên, chưa có vật liệu bao bì nào giúp bao vệ thuốc chống lại sức nóng.

Do đó, để tránh việc phí phạm thuốc, đồng thời đảm bảo giữ được tác dụng của thuốc trong điều kiện tối ưu cho tới khi đến tay người tiêu dùng, tốt nhất là nhà phân phối (đại lý 1 nhà thuốc…) nếu không cò phòng điếu hòa thì không nên trữ thuốc với số lưong lớn phải để quạt máy chạy 24/24 giờ, tránh việc trưng bày thuốc không có bao bì. Chỉ nên trưng bày hộp không, chai lọ không,v.v…; còn vỉ thuốc, chai có thuốòc, v.v. thì phải để nơi nào mát, khô nhất ở trong phòng không được bày vỉ thuốc,V V… trong tủ kính, trên sạp dưới ánh nắng mặt trời

Người tiêu dùung chỉ nên mua thuốc vừa đủ cho nhu cầu của mình trong thời gian ngắn (vì không có điều kiện bảo quản) và cần thực hiện đúng những hướng dẫn về bảo quản thuốc có ghi theo hộp và toa thuốc

Hiện nay, khâu chuyên chở thuốc ở nước ta vẫn chưa đạt yêu cầu như không có xe tải lạnh đường xa, trung bình muốn đi 100 km phải mất 2-3 giờ, qua phà. phơi mưa nắng, nóng đã ảnh hương đến chất lượng của thuốc. Một vacxin cho một Viện bào chê chuyên môn san xuất trong điều kiện tối ưu, đạt tất cả các tiêu chuẩn cần thiết của nơi sản xuất, nếu. chuyên chở và tồn trữ không đúng điều kiện quy định thì không có tác dụng gì cả. Các bộ phận kiểm tra chất lượng đã thử nghiêm cùng một mặt hảng, cùng lô Nếu tồn trữ ở điều kiện ẩm, nhiệt thích hợp thì sau hai năm chất lượng vẫn đạt như lúc mới sản xuất; còn tồn trữ ở một nơi không bảo đảm ấm, nhiệt thích hợp thì sau 3-6 tháng tùy loại hoạt chất, hàm lượng, độ phóng thích tụt đáng kể.

HẠN DÙNG

Hạn dùng của chế phẩm tùy thuộc vào hạn dùng của nguyên liệu trong điều kiện bảo quản thích hợp. Nói chung.

Enzim: Không quá 24 tháng Kháng sinh: không quá 4 năm Vacxin: không quá 12 tháng Vitamin không quá 3 năm.

Nhà sản xuất có trách nhiệm tính toán trừ hạn dùng cho chế phẩm của minh trong một khung thích hợp không thiệt hại cho người bệnh. Như vậy, ví dụ người bệnh yên tâm dùng. Nhưng nếu quá hạn dù 01 ngày đi nữa thì nên hủy bỏ, nhất là đối với tetracyclin. Không loại trừ trường hợp bảo quản Không đúng quy định thì viên thuốc. ống thuốc ngả màu trước khi hết hạn dùng. Khi đó phải dứt khoát hủy bỏ.

CÁCH DÙNG:

Nhà sản xuất có trách nhiệm phải kèm theo chế phẩm một toa hưóng dẫn cách dùng thuốc của mình trong đỏ ghi rõ: liều dùng; cách dùng, chí định, chống chí định, lưu ý.v.v… tuyệt đối Không lạm dụng thuốc kế cả thuốc bổ; tuyệt đối tuần theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt đối với kháng sinh. Người bệnh cũng cần tuân thủ cách dùng một cách nghiêm chính theo sự hướng dấn cho từng chế phẩm như.

-Uống trước, sau hoặc trong bữa ăn.

– Uống với nhiều nước, hoặc 1/2 ly nước.v.v…

* Nuốt trọn không nhai, hoặc ngậm dưới lưỡi.v.v…

– Thận trọng đối với người điều khiển cơ giới, vi thuốc có thể gây ngủ gật.

– Không cùng uống với thuốc nào đó.v.v…

– Không dùng cho phụ nữ mang thai, hoặc đang cho con bú.v.v…

– Không dùng cho trẻ em dưới 15 tuổi, trẻ sơ sinh, trẻ còn bú,v.v…

– Không dùng quả ngày.

Đọc kỹ toa trước khi dùng.

Đọc kỹ lời hướng dẫn bảo quản, và hạn dùng.

Ở các vùng sâu, vùng xa không có tủ lạnh, máy điều hòa thì cũng có thể chứa thuốc (viên, dạn.v.v…) trong 3-4 lớp bao nhựa dầy, hoặc tốt nhất trong một chai thủy tinh đậy thật kín, và đặt vào trong một hộc khoét trong thãn cây chuối sống và đậy lại bằng nắp bẹ chuôi vừa khoét; hoặc cho vào một khạp nước mát sạch, trong trường hợp này phải buộc một vật nặng vào bao chim xuống đáy khạp. Điều kiện tiên qụyết là phải đựng các thuốc đò trong một lọ thủy tinh thật kin có dằn báng keo chỗ ráp nối nút và cổ chai hay trong 3-4 bao nhựa cột thật kín. Nếu là thuốc ống (tiêm, uống) thì có thể yên tâm nếu để sâu trong khạp nước mát. Khi dùng, phải lau thật Khô sạch chai lọ, bao nhựa, ống trước khi mở.

SK và ĐS năm 1996

DS.BẢO HOA

Cà là một loại rau ăn bằng quả rất phổ biến ở nước ta và nhiều nước khác

Trong quá trình trồng trọt và chọn lọc, người ta đã tạo ra nhiều giống cà. mà thường dùng nhất là cà bát. cà pháo, cà tím. cà dái dê. Cà bát được muối mặn và nén ăn dần, cà pháo muối xối, cà dái dê xào ăn. cà tím nấu bung. Hình ảnh vại cà và chum tương luôn gắn bó với cuộc sống của các gia đình ở nông thôn miền Bắc

Ca ít cỏ giá tn dinh dựỡng, nhưng được dùng lam thuốc khá phố biến ớ nhiều nơi. Trong y hoc dân gian, cà được coi như có vị ngọt, tính lành không độc, có tác dụng chống lao tổn, tiêu sưng, tán ứ và cầm máu. Lá cà tím phối hợp với ta dao, lá cỏ roi ngựa, , rửa sạch, giã nát. đắp bằng chữa sưng tấy Lấy cà pháo (20g), lá mua (20g), nhái (1 con) giã nát. trộn với nước vo gạ đu xâm xấp, gói vào bàng gạc, nướng qua ri đàp chữa đinh râu, vét tụ máu bầm tím. Rễ cà cây cà pháo thái nhò, phơi khô. nấu nước đặc rồi ngâm rứa chữa nứt nẻ gây sưng đau ( kẽ ngón chân. Lá và vỏ quả cà tím hoặc rễ vì cuống quả cà dái dê (40gj sắc với 400ml nước còn 100ml uống làm hai lần trong ngày chữa kiết ly ra máu, đái ra máu. Cuống qua hoặc hoa cả đốt tồn tính, tán nhỏ. uống với nước cơm, mỗi lần 8g; đồng thời, lấy bột xát vào chỗ đau chữa lở miệng, loét lưõi. sâu răng. Quá cà non, hái sau khi có sương thì tốt, bổ đôi, phơi trong râm. tán nhồ, mỗi lần uống 4-8g với rượu sau bữa ăn, chữa núm vú nứt nẻ. Quả cà bát muối mặn, đem khoét một lỗ vừa lọt ngón tay hoặc bổ đôi ấp vào chỗ sưng táy chữa chín mé ở ngón tay, ngón chân. Ăn nhiều cà tím có tác dụng nhuận tràng. Hàng ngày, dùng những miếng quả cả tươi cắt mỏng, đắp lên mặt. để yên độ 20 phút; sau đó, rứa sạch bằng nước pha sữa, làm thuốc dưỡng da rất tốt với làn da khô.

Theo tài liệu nừớc ngoài, ở Trung Quốc cả cây cà có tác dụng làm tan máu ứ, quả cả còn dùng chống ngộ độc nấm. Ở Philippin, nước sắc rễ cà chữa hen. ớ Madagasca. lá và quả cả tím chữa tiêu cháy, sốt, viêm phối, ớ Ghinê, dịch ép từ rễ cà tím nhỏ tai chữa viêm tai. Ở Nam Phi, nước sắc rễ cà tím chữa giang mai. Một số công trình nghiên cứu thấy cà tím chứa nhiều vitamin p có thể tăng cường sức đàn hồi của huyết quản mao mạch.

Khi dùng các loại cà làm thuốc, cần đặc biệt chú ý đến cây cá trái vàng (Solanum xanthocarpum Schrad et Wendl). Cây này có quả màu vàng khi chín, rất giống quả cà pháo, mọc tự nhiên nhiều ở xung quanh Đà Lạt, các huyện Lạc Dương, Đơn Dương thuộc tỉnh Lâm Đồng và ở Gia Lai. Quả cà trái vàng chứa solasodin, không dùng đế ăn như, cà pháo được.

SK và ĐS năm 1996

Bệnh hemophiia

Bệnh hemophiia là một bệnh chảy máu di truyền liên quan đến giới tính. Người bệnh bị chảy máu khó cầm khi bị va chạm do tình trạng thiếu hụt hoặc không có hoặc có sự bất thường về chức năng của yếu tố đông máu Vlilc (gần 88% số bệnh nhân) hoặc iXc (gần 12% số bệnh nhân) Đây không phải là bệnh nhíễm khuẩn hay truyền nhíễm mà là một bệnh di truyền mà người con trai phải thừa hưởng gen (gene) bệnh của mẹ truyền cho.

Bình thường, khi bị đứt tay. chảy máu, các yếu tố đông máu trong cơ thể nhanh chóng tạo ra “nút ’ để vít lại chỗ mạch máu bị đứt và làm ngừng chảy máu. Nhưng ớ người bệnh hemo-philia, “nút” này khó hình thành hoặc không chắc chắn nên chảy máu sẽ kéo dài hoặc dể bị tái diễn Chảy máu có thế xảy ra ở bất kỳ nơi nào của cơ thể, có thể xảy ra một cách tự nhiên hoặc sau khi nhố răng, sang chấn, phẫu thuật…

Theo Tố chức y tế thế giới (1991), cứ 100 nghìn trẻ trai mới sinh có khoảng 15-20 trẻ bị bệnh. Người ta ước tính trên thế giới cứ 16 nghìn dân có một người bị bệnh này, và ở thời điểm năm 2020, thế giới có khoảng 550 nghìn người bị hemophilia. ớ nước ta, chưa có một cuộc điều tra quy mô lớn nào về vấn đề này, song ước có khoảng 1.000 bệnh nhân hemophilia. Trong số 58 bệnh nhân được phát hiện ở Hà Nội, tuổi cao nhất là 70 tuổi, tuổi nhỏ nhất lả 7 tháng rưỡi tuổi; thường gặp là chảy máu ở khớp và phần mềm, có thể chảy máu trong cơ, nội tạng, bầm tím da, chảy máu củng mạc, chảy máu sau chấn thương, sau mổ, … 37,93% số bệnh nhân nói trên có tiền sử gia đình bị mắc bệnh rõ rệt, có gia đinh cả bốn thế hệ kế tiếp đều có người mắc.

Nói chung, nếu bệnh được phát hiện sớm, điều trị đúng, và chăm sóc tốt, người bệnh có thể sống và làm việc bình thường. Song phần nhiều do thiêu hiểu biết về bệnh, không được chữa, qua nhiều đợt tiến triển, khi bệnh đã nặng, chảy máu nhiều hoặc đã bị teo cơ, cứng khớp người bệnh mới đến bệnh viện. Chưa kể, do chảy máu nhiều, tái phát nhiều lần, phải truyền máu và các chế phẩm máu nên người bệnh dễ bị lây nhiễm viêm gan B, c vả HIV. Theo M C.Smit. thế giới có 20 nghìn người hemophilia bị nhiễm HIV (1994) trong tống số 20 triệu người nhiễm HIV/AIDS. Đây là nguy cơ cho bệnh nhân và cho cả cộng đồng, do đó để điều trị bệnh này. người ta phải thường xuyên bố sung yếu tố đông máu hoặc truyền máu, truyền huyết tương… và như vậy nếu chỉ người bệnh và gia đình sẽ không lo nối chi phí cho điều trị.

Điều quan trọng với loại bệnh này là cần tuyên truyền rộng rãi để các thanh viên trong] cộng đồng hiểu biết về bệnh, từ đó có thể phát hiện bệnh sớm để người bệnh biết cách tự phòng ngừa chảy máu. tránh va chạm. biết tự chăm, sóc tại nhà và định kỳ kiểm tra yếu tố đông máu, nếu thấy giảm nhiều phải bố sung. Các bà mẹ, cần để tâm phát hiện nếu thấy con trai mình có những dấu hiệu bất thường (bị chảy máu khi va chạm, khó cầm hoặc sưng khớp. .) phải đưa đi khám bệnh.

Về lâu dài, đế giải quyết vấn đề hemophia đòi hỏi phải có sự tham gia của cộng đồng: chăm sóc của gia đình, sự đóng góp cúa ngành trong đó có tổ chức chữ thập đỏ; bộ thương binh – xã hội; của các thày thuốc lâm sàng nhi. răng – hàm – mặt. tai – mũi – hong). huyết học – truyền máu, phục hồi chức năng; giáo hướng nghiệp… Bản thân người bệnh cũng có một tổ chức hội. chí ít là một câu lạc bộ người hemophilia – một loại hình vừa mang tí từ thiện, vừa tư vấn chuyên môn nhằm cung cấp cho họ những kiến thức về bệnh, giúp người bệnh biết cách tự theo dõi, tự chăm sóc, độ viên nhau tập luyện phục hổi chức năng hướng nghiệp, tạo việc làm phù hợp với sức khỏe. Trên tinh thần đó, những người tham Hội thảo hemophilia lần thứ nhất do Vìện huyết học – truyền máu và Viện bảo vệ sức khỏe;trẻ em tổ chức mới đây (12-11) đã kêu gọi thành lập câu lạc bộ dành cho người bệnh hemophìli kêu gọi các nhà háo tâm, các cơ quan, tổ hữu quan và cộng đồng hãy trợ giúp tài để điều trị bệnh và hướng nghiệp cho bệnh. Một số thầy thuốc chuyên ngành học – truyền máu, một số bệnh nhân và đại gia đình người bệnh tham dự hội thảo đã nguyện tham gia Ban vận động để tiến tới lập câu lạc bộ.

SK và ĐS năm 1996

Khoa y học cổ truyền bệnh viện II Hải Hưng

Khoa y học cổ truyền bệnh viện II Hải Hưng thực hiện kết hôn với y học hiện dại trong chữa bệnh

Kết hợp y học cổ truyền (YHCT) và y học hiện đại là một trong những đường lối y tế của Đảng và Nhà nước ta trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoe nhân dân. Nhưng kết hợp như thê nào trong trường hợp bệnh lý nào, ở giai đoạn nào của bệnh.v.v… là những vấn đề mà các thầy thuốc YHCT ở-bệnh viện II Hải Hưng suy nghĩ, lựa chọn.

Khoa YHCT bệnh viện II Hai Hung tách ra từ khoa nội nàm 1986, cồ 10 bièn chế trong,đó có 5 bác sĩ (có 3 bác sĩ chuyên khoa .cấp I) và 2 y sĩ. 20 giường bệnh, nhưng hàng nầm vẫn phục vụ bệnh nhán tương đương với chỉ tiêu 30 giường: điều trị có hiệu quá các chúng bệnh: đau dây thần kinh tọa, viêm đa khớp dạng thấp, viêm khớp mạn, liệt dây thần kinh số-VII, phục hồi liệt nửa người,v.v… Khoa đã phối hợp với các khoa khác trong việc điều trị theo hai cách chính: theo triệu chứng và theo giai đoạn bệnh.

Điều trị kết họp theo triệu chứng như bệnh nhản nằm ở khoa ngoại hay khoa sản bị bí đái, khoa YHCT sẽ cử người tới châm cứu và giải quyết cho bệnh nhân; hay bệnh nhân ở khoa mắt điều trị một bệnh khác về mắt nhưng kèm theo sụp mi, khoa YHCT tới khoa mạt giải quyết sụp mi cho bệnh nhân; hoặc bệnh nhân o khoa răng – hàm – mặt, khoa tai-mũi-họngđiều trị một bệnh về ràng hay về xoang nhung bị liệt dây thần kinh số V. khoa YHCT tới và điều tri liệt dây thần kinh số V cho bệnh nhân, v.v… Điều trị kết nyp theo giai đoan cùa bệnh, vi du bệnh nhàn bị liệt nưa người do tai biến mạch máu não khi bệnh nhân mới bị sẽ vào khoa hồi sức cấp cứu hay khoa nội và tại đó điều trị hết giai đoạn cấp tính (cứu sống bệnh nhân). Đến giai đoan phục hổi chuyến bệnh nhân sang khoa YHCT để điều trị củng cố và phục hồi chức năng; hay bệnh nhân bị viêm gan virut, viêm cầu thận cấp.v.v… cũng điều trị kết hợp theo giai đoạn của bệnh.

Với cách làm trên khoa YHCT đã phối hợp với tất cả các khoa trong viện, cùng với các khoa làm tốt công tác chàm sóc sức khỏe nhân dân

HÀ ANH – SK và ĐS năm 1996

Ngày quốc tế tàn tật ở nước ta

Bộ y tế tổ chức tập huấn pháp chế y tế và công tác hành chính trong quản lý

Nhằm nâng cao kiến thức pháp luật và kiến thức hành chính trong thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về y tế ở địa phương, Bộ tế đã tổ chức lớp tập huấn Pháp chế y tế và công tác hành chính trong quản lý cho 52 học viên của các Sở y tế 27-28/11/96 tại TP.Nam Định.

Đến dự có PGS.PTS Thứ trưởng Bộ y tế Lê Ngọc Trọng- đồng chí Nguyễn Văn Xuyên – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nam Hà và nhiều đồng chí đại diện cho Bộ y tế. Bộ tư pháp.. Sạu khi nghe đồng chí Lê Ngọc Trọng giới thiệu những nội dung cơ bản của Nghị định 37/CP về hướng chiến lược công tác chăm sóc VSKND đến năm 2000 và 2020, các học viên đi sâu thảo luận nội dung: Nhà nước pháp quyền và những quy đinh cụ thể của Luật Dân sư, Hình sự có liên quan đến ngành y tế. Thẩm quyền ban hành và hình thức các văn bản pháp quy của các bản pháp luật cơ bản về chăm sóc và BVSKND; Quyết định số 630/TTg của Thủ tướng Chính phủ về lập danh mục bí mật Nhà nước trong ngành y tế và quy chế bảo vệ bí mật Nhà nước trong lĩnh vực y dược, công tác công vẫn giấy tờ và công tác lưu trữ; Quyết định của Bộ trướng Bộ y tế ban hành quy định về y đức.

VŨ HUYỀN

Ngày quốc tế tàn tật ở nước ta

Ngày 29-11, tại Hà Nội. Bộ y tế đã tổ chức mít tinh hường ứng Ngày quốc tế tàn tật 3-12 và Thập kỷ người tàn tật (NTT) khu vực châu á – Thái Bình Dương 1993-2002 nhằm thúc đẩy hơn nữa các nỗ lực để đạt được những mục tiêu có liên quan đến việc NTT tham gia đầy đủ và bình đẳng các hoạt động xã hội; kêu gọi các tổ chức Kinh tế xã hội, các tổ chức quốc tế, tổ chức của NTT cùng phối hợp phát triển và thực thi các chương trình hành động quốc gia, thực hiện chiến lược phát triển ngành phục hồi chức năng (PHCN) Việt Nam vì người tàn tật trong thập kỷ tới; tạo cơ hội để NTT hội nhập xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực phục hồi chức năng (PHCN). giáo dục. việc làm…

Trong số các thành viên tham gia mít tinh, ngoài đại diện của các ban, ngành hữu quan, các tổ chức xã hội, các tổ chức quốc tế còn có sự tham gia của đại diện Hội người mù Việt Nam, Tổ chức vì tương lai tươi sáng Trường mù Nguyễn Đình Chiểu, Trường trẻ em câm điếc Xã Đàn – những người thay mặt cho gần 4 triệu NTT ở khắp mọi miền đất nước với tư cách là một chủ thể của chương trình PHCN. Đặc biệt, những người tham gia mít tinh đã được thưởng thức một chương trình ca, muá, nhạc kịch câm do những tài năng được phục hồi của các em ở Trường mù Nguyễn Đình Chiểu và Trường trẻ em câm điếc Xã Đàn diễn thực sự hào hứng, sôi nổi. Có thể coi đây là biểu hiện đẹp, là minh chứng sinh động về khả năng hội nhập cộng đồng của NTT nước ta.

QN

SK và ĐS năm 1996

Về những vụ tự vẫn

Xã hội nào, thời nào cũng có người “nửa chừng xuân” tự vẫn. vốn đã cao tuổi, tôi càng ít quan tâm đến phim tình. Tôi bất bình về tin diễn viên điện ảnh L.C.T.A tự vẫn. Trong các nguyên nhân báo nêu, tôi thử nêu nguyên nhân tâm lý: do anh đóng một loạt phim tình, có ý kiến cho rằng phim “rẻ liền”. Vậy cần có nhà phê bình điện ảnh để hướng dẫn dư luận trẻ, đừng nhiễm độc họ, trựớc hết nhiễm độc diễn viên, vì họ phải nhập vai cho thật, cho hay mới được “cát xê”, mến mộ. Ngay những tên phim “Vị đắng tình yêu”, “Ngọt ngào và man trá” chưa rõ nội dung, mới nghe đã thấy “cũ’ quá. Biết đâu tình cảnh hư cấu trong phim cộng vói hoàn cảnh thực riêng tư, trong giây phút nhất định có thể góp phần làm thanh niên uổng phí cuộc đời.

Là thầy thuốc, tôi từng xúc động trước mọi cái chết, về thuốc, thuốc ngủ thường là thủ phạm, mà mọi thuốc bệnh kể cả thuốc bổ, uống quá liều chỉ định cũng có thể gây tử vong. Tâm lý người có ý định tự vẫn, nếu được người xung quanh biết, khuyên bảo chân tình, kịp thời vẫn có thể qua được cơn bi thảm, phẫn uất. Tôi nhớ đến “đường dây nóng” của bưu điện. Ở bệnh viện, nhiều nạn nhân sau khi được cấp cứu kịp thời, tỉnh lại đã tỏ ra hối hận, tiếc đời. về sau, cùng có cả tái phạm thường do người xung quanh mất cảnh giác, không theo dõi, giúp đỡ đến non đến chốn.

Ngay tại các khoa tâm thần kinh, phân công nhân viên theo dõi, giám sát mà vẫn có cá lọt lưới, dùng dây thắt cố, nhảy xuống nước, nhảy lầu, đâm vào ô tô… Một lần nữa, thấy các câu thơ bất hủ của Nguyễn Du

“Đã không biết sống là vui

Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương”

Và “Nợ tình chưa trả cho ai .Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan” Một tài liệu về giáo dục giới tính của Thụy Điển gần đây có nhận xét rằng: nói chung thanh, thiếu niên nam nữ ngày nay có trách nhiệm hơn với bản thản, với mối quan hệ của họ giữa người với người.

SK và ĐS năm 1996

Chuyện một nữ y tá xin được quyền làm mẹ

Trường phổ thông nội trú Y.x. Có cô y tá D, công tác tốt, hiền lành; giáo viên, công nhân viên và học sinh trong trường rất quý mến. Năm nay cô đã 38 tuổi chưa có gia đình, Bỗng một hôm có tin loang ra, cô D đã có thai; thế là trong trường bàn tán xôn xao.

Đồng chí K với tư cách Chủ tịch công đoàn. đến gặp cô D, cô D nói thật “em chủ trương không lấy chồng vì em đã quá thất vọng về một vài mối tình đã qua nhưng em lại muốn có một đứa con cho cuộc sống đỡ cô đơn. Người giúp em chuyện này là một người tốt, xin cho phép giấu tên để khỏi ảnh hướng đến hạnh phúc gia đình anh ấy. còn việc em làm, có gì sai. em xin chịu nhận kỷ luật”.

Đồng chí K báo cáo lại ý kiến này của D cho ban giám hiệu và một số anh chị em cốt cán trong công đoàn. Ý kiến chung là thông cảm. cứ để cho sự việc trôi qua nhẹ nhàng như không có gì xảy ra. Một số ý kiến thì coi là có vấn đề, ít nhất cung làm chi phối trách nhiệm và tình cảm của người đàn ông giúp việc này, đối với gia đình họ,

Trong một dịp về công tác ở trường, thấy tôi nhiều tuổi và cũng có một số kinh nghiệm giải quyết những vấn đề phức tạp, đồng chí K liền đưa vấn đề này ra hỏi ý kiến tôi, nhân thể có một số anh chị em cốt cán nhà trường đang ngồi chơi với tôi và cô D không có mặt ở đâỵ.

Lúc đầu tôi hơi ngại nhưng rồi cũng thẳng thắn nói lên quan điếm của mình (theo góc độ người quản lý):

– Nếu việc này, cô D báo cáo trước với nhà trường và công đoàn ý định của mình, rồi xin ra Hà Nội hoặc vào thành phố Hồ Chí Minh thụ tinh nhân tạo là tốt nhất; chẳng phải tai tiếng gì.

Bây giờ sự việc đã diễn ra như thế thì cũng phái có động tác giải quyết nhưng theo hướng thông cảm nhân đạo.

Đối với quần chúng cần có một sự thông báo công khai sự thật như cô D đã báo cáo với công đoàn và động viên mọi người chấp nhận quyền làm mẹ của D khi đứa cháu ra đời. Chính luật hôn nhân và gia đình” cũng có điều khoản công nhận quyền hợp pháp đứa con ngoài giá thú. Cũng cần giúp mọi người phân biệt rõ trường hợp này không như những sai lầm trong sinh hoạt tình dục, trong quan hệ nam nữ. Đây là một yêu cầu chính đáng của một người phụ nữ bất hạnh, muốn có một đứa con để đỡ cô đơn trong cuộc sống và được chăm sóc trong tuổi già. Cần đấu tranh lại với những quan niệm cũ kỹ hẹp hòi nghiệt ngã theo kiểu phong kiến thời xưa

Hướng giải quyết như thế là đúng nhưng tôi sợ mối quan hệ giữa cô D với người đàn ông nào đó cứ bí mật tiếp tục quan hệ với nhau và “dắt nhau” đi xa hơn thế thì sao? Một đồng chí là hiệu phó nêu lại vấn đề.

– Đúng, đồng chí nêu lên ý đó để ta tiếp tục bàn, đây cũng là điều tôi sắp nói. về phía cô D, nhà trường cần cho cô thấy cách giải quyết của cô không phải là phương án tối ưu. Và nhắc cô không được tiếp tục quan hệ tình cảm và tình dục với’người đàn ông đã giúp cô; cần phải bảo vệ hạnh phúc thật sự cho gia đình anh ấy và cho chính sự yên ổn của bản thân mình. Nếu vấn đề nay không được giữ đúng thì mọi thông cảm của quần chúng và tổ chức trớ nên vô nghĩa, ý nghĩa nhân đạo của vấn đề cũng không còn nữa .Đồng thời cũng khuyên cô tiếp tục công tác và quan hệ với mọi người tốt như lâu nay.

Chìa khóa của vấn đề hiện nay đang nằm trong tay cô.

Mọi người nghe đều tỏ vẻ đồng tình. Không khí có phần dịu hẳn như vấn đề đã được giải quyết

Riêng có một cô giáo ngồi ớ cuối phòng, từ nãy đến giờ chỉ ngồi cúi đầu xuống bàn, không hề có một biếu hiện gì. Đồng chí Chủ tịch công đoàn nhìn về phía đó, hỏi

– Cô giáo Vân K.H có ý kiến gì không.

Cô K H đứng dậy nói chậm rãi:

* Tôi rất xúc động trước thái độ nhân đạo, có tình có lý của các đồng chí. cô D là một người tốt, chắc chắn cô sẽ không đi vào con đường sai lầm. Tôi là cán bộ nữ công của công đoàn đã không làm được nhiệm vụ gì cho công đoàn và cho bản thân đồng chí D trong vấn đề này. Tôi đề nghị các đồng chí lãnh đạo đi sát anh chị em hơn nữa, tập thể chúng ta cần gần nhau hiểu nhau hơn nữa.

Vừa lức đó, cô D từ ngoài cổng đi vào. Trông cái bụng đã khá to, Thoáng thấy trong phòng họp người khá đông, cò vội rẽ trái về phía nhà bếp. Cô K.H liền gọi to: D ơi, D ơi!

Tất cả đều nhìn ra sân; nhiều người đứng dậy cùng bước ra theo cô K.H. Nhất định họ sẽ nói những điều tốt đẹp, mang lại niềm vui và sự thanh thản cho người phụ nữ bất hạnh và đang sống trong lo âu này.

SK và ĐS năm 1996

Thanh Hóa 10 năm thực hiện chương trình thanh toán phong từng vùng

Đã từ lâu, nhân dân ta quan niệm rằng bệnh phong là một trong 4 bệnh “Tứ chứng nan y”, không thể chữa khỏi được và phải sống xa lánh cộng đồng. Mặt khác, trong thời gian trước đây công tác chống phong chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, mạng lưới da liễu hoạt động chưa thường xuyên, nên cán bộ ỵ tế cũng chưa có định hướng về công tác này. Do đó, trước khi thực hiện chương trình thanh toán phong, ở 2 huyện và thành phố còn có 152 bệnh nhân phong, trong đó huyện Quảng Xương 72, Hoằng Hóa 58 và thành phố Thanh Hóa có 22 bệnh nhân phong.

Căn cứ vào đặc điếm tình hình của địa phương và dựa vào 3 tiêu chuẩn thanh toán phong, ban chí đạo các đơn vị đã đề ra kế hoạch trong từng giai đoạn và những biện pháp cụ thẻ với 3 nhiệm vụ cần thực hiện tốt là: Công tác giáo dục y tế, công tác điều trị và công tác phát hiện bệnh nhân phong mới.

Trong công tác giáo dục y tế, với quan niệm thanh toán phong là một quá trình chuyển giao kiến thúc cơ bản cho nhân dân. Do đó, Ban chí đạo đã sử dụng nhiều hình thức tuyên truyền để mọi người dân hiếu biết và nắm được những quan niệm mới. kiến thức cơ bản về bệnh phong là một bệnh khó lây, không di truyền, chữa khỏi, chung sống được với cộng đồng, đồng thời có thế tự phắt hiện bệnh, tự giác đến khám và điều trị. Mặt khác, xây dựng lòng nhân ái giữa con người với con người, giữa cộng đồng với bệnh nhân, để toàn dân cùng tham gia tích cực quản lý bệnh phong.

Để đạt được những yêu cầu này, Ban chỉ đạo đã sử dụng nhiều phương tiện thông tin đại chúng như: báo chí, loa, đài, kẻ vẽ pano, áp phích, tờ rơi, tuyên truyền lưu động ở các chợ, bến xe, các nơi tập trung đông dân cư, mở các lớp tập huấn do Trạm da liều tính giang, để xây dựng đội ngũ báo cáo viên cho các đoàn thể, các công sở nhà nước tuyên truyền trong các hội nghị và báo cáo viên cho các xã, phường nhằm hướng dẫn tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân mà đối tượng là ban chỉ đạo của xã. phường, đồng thời đưa nội dung chống phong vào giảng dạy trong các nhà trường, có tổ chức kiếm tra hiếu biết bệnh phong, để mỗi học sinh là một tuyên truyền viên.

Trong công tác quán lý điều trị 152 bệnh nhân phong, trên địa bàn 2 huyện và thành phố, 100% điều trị tại nhà không cần phải đi điều trị tập trung như trước. Các bệnh nhân có sổ sách theo dõi, hồ sơ bệnh án chặt chẽ. Với tổng số là 152 bệnh nhân phong cũ và 14 bệnh nhân phong mới phát hiện, được điều tri bằng Đa hóa trị liệu chỉ và DDS đều không có di chứng tàn phê và tàn đại phế mới, 100% đều khỏi, hết thời gian giám sát.

Trong công tác khám và phát hiện bệnh nhân phong mới, thông qua việc thực hiện theo quy định: Khám sức khỏe toàn dân 3 năm một lần, khám ổ phong 6 tháng/1 lần. khám người tiếp xúc với bệnh nhân phong 3 tháng/1 lần. Ngoài ra còn khám lồng ghép khám thai, khám tuyển sinh, khám nghĩa vụ quân sự, khám sức khỏe, Sau 10 năm (1986-1996) kiên trì thanh toán bệnh phong, trong 3 ngày từ 21 đến 24-10-1996, Ban chỉ đạo chương trình thanh toán phong của tỉnh đã tố chức nghiệm thu chương trình thanh toán phong ở Hoằng Hóa, Quảng Xương, thành phố Thanh Hóa có sự giám sát của Bộ y tế và các dồng chí lãnh đạo Trung tâm Da liễu thành phố Hà Hội, Trạm da lỉễu các tỉnh Bắc Thái, Nghệ An, Hà Tĩnh. Qua kiếm tra nghiệm thu 12 xã thuộc huyện Hoằng Hóa, có 11 xã đạt loại xuất sắc, 1 xã đạt loại giỏi.

Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, có đơn vị số sách ghi chép chưa chu đáo, còn nhầm lẫn, số người được kiểm tra hiểu biết về bệnh phong, trả lời đúng mới đạt 80%, công tác tuyên truyền có địa phương còn đơn giản. Để làm tốt hơn nữa công tác thanh toán phong, trong thời gian tới cần tiếp tục duy trì khám phát hiện bệnh nhân phong 3 năm/1 lần thông qua khám sức khỏe toàn dân, khám phát hiện bệnh nhân phong mới bằng phương pháp khám lồng ghép, tăng cường giáo dục y tẽ cộng đồng, giảng dạy trong nhà trường nhằm xã hội hóa công tác giáo dục ỵ tế về bệnh phong. Mặt khác, cần được các cấp, các ngành, các đoàn thể quan tâm hơn nữa đến đời sống tinh thần và vật chất cho bệnh nhân, vì tỷ lệ bệnh nhân phong nghèo còn rất cao.

SK và ĐS năm 1996

Tình trạng lạm dụng ma túy có chiều hướng gia tăng

Theo tin từ Ban chủ nhiệm Chương trình Quốc gia phòng chống và kiểm soát ma túy (06/ CP), tình trạng lạm dụng ma túy ở nước ta thời gian gần đây có chiều hướng gia tăng.

Cả nước hiện có hơn 180.000 người nghiện. Đáng lo ngại là số người nghiện ở lứa tuổi thanh thiêu niên tăng nhanh. Đặc biệt số nghiện dưới 30 tuối chiếm tới 70%, không ít trẻ em dưới 10 tuổi đã mắc nghiện. Ngoài thuốc phiện, ma túy được chuyển sang các dạng như: hút, hít, tiêm chích các thuốc gây nghiện… Đặc biệt nguy hiểm là nhiều người sử dụng sái thuốc phiện pha loãng, tiêm vào tĩnh mạch Đây chính là một trong những nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng người nghiện ma túy. Gần đây ở các tỉnh biên giới phía Bắc, xuất hiện kiểu hít ngửi heroin dạng bột trong các trường học phổ thông. Trong khi đó việc tổ chức cai nghiện đạt hiệu quả thấp, 70-90% số người sau cai đã tái nghiện trở lại. Nhiều người nghiện vào trung tâm cai nghiện tới 5 đến 10 lần.

Theo thống kê lượng thuốc nghiện, ma túy trôi nổi vào Việt Nam có chiều hướng gia tăng. Số lượng ma túy được phát hiện, bắt giữ ngày càng tăng và đã xuất hiện các đường dây buôn lậu ma túy quốc tế. Tính từ năm 1993 đến 5/1996, cả nước đã phát hiện 6249 vụ buôn bán, sử dụng ma túy trái phép với 13.765 đối tượng phạm pháp. Riêng 6 tháng đầu năm 1996. đã có 304 đối tượng. 184kg thuốc phiện, 32.7kg heroin, 2kg codein bị bắt giữ.

PV

Ai giết Trần Hồng Thái?

Vào 8 giờ sáng ngày 25’11/1996. nhân dân xã Khương Đình đã phát hiên một xác chết tại khu đất cua Viện nghiên cứu thuốc lá Thăng Long Nhận được tin báo. công an xã Khương Đình lập tức tới ngay hiện trường nơi xảy ra vụ án

Qua tiến hành xác minh điều tra đươc biết: Nạn nhân tên là Trần Hồng Thái, sinh năm 1973. ngụ tại khu tập thể Viện thiết kế điện lực. Dựa vào các dấu hiệu còn sót lại tại hiện trường, các đồng chí công an nhận định rằng; Nạn nhân đã bị hành hung vào đêm 24/11/1996. Thủ phạm dùng gạch, gậy đập liên tiếp vào đầu nạn nhân gây vỡ hộp sọ Sau đó xác nạn nhân bị vứt vào bụi rậm ở khu đất của Viện nghiên cứu thuốc lá Thăng Long Sau khi gây án, thủ phạm đã cướp đi của anh Thái một xe máy Dream II và bỏ trốn. Hiện nay. cơ quan công an đang tích cực điều tra nhằm làm sáng tỏ nguyên nhân dẫn tới cái chết của anh Trần Hồng Thái.

PV

SK và ĐS năm 1996

Đáp ứng miễn dịch

VITRO cap

Vitrocap có tác dụng tăng sức đề kháng và điều hòa miễn dịch, sử dụng trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn, virut và các bệnh dị ứng.

Trình bày: Viên nang cứng, màu nâu. Hộp 3 vỉ, mỗi yỉ 10 viên

Thành phần: – Thymomoduỉỉn………..80,0mg

– Methyỉ – p – hyđroxy benỉoate 0,2mg

– Propyỉ – p – hydroxy bensoate 0,1 mg

Chỉ định:

* Điểu trị hỗ trợ các trường hợp nhiễm khuẩn do vi khuẩn và virut như viêm gan virut, viêm nhiễm đường hô hấp.v.v…

Điều trị bệnh giảm bạch cầu giai đoạn I và II. Phòng ngừa bệnh giảm bạch cầu do yếu tố gây độc tủy xương.

Kích thích miễn dịch và được dùng trong trường hợp suy giảm khả năng hình thành kháng thể (đặc biệt ở các trường hợp bệnh dai dẳng ở trẻ em. người già)

Điều hòa miễn dịch túy xương

Điều trị viêm mũi dị ứng, hen, viêm da dị ứng, dị ứng thức ăn.

Cách dùng :

Người lớn uống mỗi lấn một viên, mỗỉ ngày 1 đến 2 lần.

Trẻ em; 4mg/kg/ngày.

Có thể dùng riêng rẽ hay phối hợp với kháng sinh, kháng hístamín và các thuốc khác. Thời gian dùng thuốc theo chỉ dẫn của y, bác sĩ

Thận trọng:

1. Chống chỉ định: không dùng thuốc cho bệnh nhản bị nhạy cảm với thuốc.

2 Tác dụng phụ: Các phán ứng dị ứng có thố xảy ra ở các bệnh nhân bị nhạy cảm với thuốc

Phân phối:

Chi nhánh Naphaco 36-1 Thái Thịnh – Hà Nội.

TS dược học Trần Văn Thanh

Đáp ứng miễn dịch và thuốc điều hòa miễn dịch

Đáp ứng miến dịch (sức đề kháng của cơ thể, có ý nghĩa rất quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của nhiều hội chứng, bệnh dị ứng và miễn dịch bệnh lý. Từ cuối thế kỷ 19, nhiều nhà y học trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu đáp ứng miễn dịch ở cơ thế con người

Tuyến ức (Thymmus) là cơ quan trung tâm của bộ máy đáp ứng miễn dịch có nhiệm vụ sản xuàt ra tế bào lymphỏ T, đây là tế bào có vai trò nhất trong đáp ứng míễn dịch.

Trên cơ địa miễn dịch của cơ thể là thấy việc suy giảm hay tăng cường miễn dịch đều có thể dẫn đến bệnh tật. Xuất phát từ đó thuốc điều hòa miển dịch ra đời và được sử dụng để khắc phục bệnh tật Ịìên quan đến miễn địch của cơ thể đặc biệt là bệnh dị ứng và tự miễn.

Thực tế y học thế giới đã sử đụng các thuốc ức chế miễn dịch như azathỉoprin, delagyl để khắc phục một số bệnh tự miễn và dị ứng. Thuốc tăng cường miễn dịch chú yếu đã được áp dụng trong điều kiện trị nhiễm khuẩn tái phát… như levamisoí, biostin (RU-41740). Từ nhiều năm nay, các nhà khoa học nổi tiếng về miễn dịch học. dị ứng học ở Mỹ Nga Hàn Quốc đã nghiên cứu các hoạt chất lấy từ tuyến ‘ức (thymmus) nhất là thymomodulin cho kết quả khả quan trong điều trị các bệnh như. Hen phế quản, víệm mũi dị úng, viêm da dị ứng, dị úng do thức ăn, viêm gan các loại, viêm phế quản tái phát và mạn tính… Thuốc điều hòa miễn dịch này có tác dụng táng sự đế kháng và điều hòa miến dịch trên cơ sở tác động trực tiếp đến hệ thống tế bào lympho.

SK và ĐS năm 1996