Tai biến của các thuốc dùng ngoài da

Những thuốc bôi ở ngoài da được dùng rất phổ biến và nhìn chung là những thuốc này không cần phải kê đơn. Vì vậy, người ta thường ít chú ý tới tác hại của chúng. Ở đây chỉ xin đề cập tới một số tai biến có thể do các thuốc bôi ngoài da gây nên, không kể đến thuốc sát khuẩn (kể cả cồn iôt) và các loại mỹ phẩm.

Nhóm thuốc kháng sinh dùng ngoài da thường được bào chế dưới dạng thuốc mỡ và gồm một số thuốc chích bacitracin. polvmixin, neomycin, gen, taminci, clincamycin, etrythomicin, tetracylin. Bathychacin là loại kháng sinh hay dùng nhất tuy ít hấp thụ qua da và ít gây tai biến toàn thân nhưng có thể gây ra các chứng mày đay hoặc da do tiếp xúc polymyxinB, một kháng sinh có hiệu lực với các chủng gram âm thường được dùng cả ở với các dạng thuốc mỡ hay dung dịch lỏng. Cũng cần chú ý không nên bôi liều quá cao, quá nhiều (trên 200 mg) và có thể gây độc với thận và hệ thần kinh. Neomycin cũng là thuốc rất được ưa dùng cả dạng đơn độc cũng như phối hợp với bacitracin hoặc polymycin. Nó cũng có thể gây ra những dị ứng tại chỗ nhất là khi bôi cho các bệnh da dạng chàm và thường có dị ứng chéo với các thuốc khác trong nhóm aminosid (streptomicin, kanamycin, gentamycin,…)

Với các thuốc kháng sinh dùng cho bệnh trứng cá clindamycin hay gât kích ứng nóng bỏng da hoặc viêm da tiếp xúc còn enthymocin cũng thường gây cảm giác bỏng rát, kích thích khô rát, đôi khi có thể gây dị ứng với những biểu hiện tại chỗ . Một số thuốc chống virut có tác hại tương tự.

Nhóm kháng sinh chống nấm dùng ngoài da hay gặp gồm : clotnmazol, griseoíulvin. miconazol, econazoĩe, nystatin, amphotericin B… Trong số đó. ciotrìmazol. micerazol và econazol có thể gây ngứa, ban đỏ hay kích ứng tại chỗ, và cũng có thể gây dị ứng da. do tiếp xúc. Bôi am-photericin B có thể tạo ra vết nhuộm vàng tạm thời ở trên da. và đôi khi có dị ứng ở da.

Nhóm thuốc có tác động lên sắc tố da hay dùng là hydroqtỉinon và moncbcn/on. Chúng có thể gây kích ứng tại chỗ bôi và có thể gây dị ứng . Nó được khuyên là nên dùng thử ở một diện hẹp trước khi bôi lên mặt và đặc biệt không, được cho tiếp xúc với mắt. Nó còn có thể gây hội chứng bất thường với sắc tố da với những bệnh nhân tiếp xúc với ánh nắng quá nhiều khi dùng thuốc.

Triosalen và methomajen cùng được dùng từ rất xa xưa để điều trị bênh bạch biến và vẩy nến, song, khi dùng kéo dài có thể gây ung thư da và có chống chỉ định cho trẻ dướì 12 tuổi :

Nhóm thuốc chữa bệnh trứng cá: ngoài các KS còn có một số chế phẩm I reíinoic acid, isotreirnoin. eưrtíonat. Trong số này. reíìnoic acid khi bôi có thể dây phát ban và khô da, nguy hiểm hơn là người ta thấy trên súc vật nó có khả năng làm tăng ung thư da dưới tác dụng của tia cực tím. Các thuốc còn lại trong nhóm này đều có một số tác hại và cần tránh để thuốc vào mắt và các niêm mạc khác.

Nhóm thuốc chống viêm rất phổ biến ở cả dạng đơn độc hay phối hợp với kháng sinh. Thuốc chủ yếu là các corticord có tác dụng chống viêm mạnh. Nhóm này nếu dùng bôi toán thân thể có thể gây ức chế tuyến thượng thận,.. Những biểu hiện hay gặp như là chứng teo cơ, teo da vùng bôi thuốc mà thể hiện có thể là sự yếu cơ, suy nhược Các dấu hiệu giãn mao mạch dưới da. có thể có ban đỏ và các nốt hầm máu, các mụn mu ở da. các vết săn, viêm da quanh miệng, trứng cá, thay đổi trạng thái nhiễm khuẩn dướí da, giảm sắc tố da nơi bôi thuốc, viêm da dị ứng do tiếp xúc…

Nhóm thuốc phá hủy và làm tróc lớp sừng da, điển hình là acid salicylic hay dùng để chữa chứng chai chân, mụn cơm… Nhưng ngay với những chỉ định rất thông thường này thuốc có thể gây ban đỏ, mày đay, sốc quá mẩn… gặp ở những người dị ứng với salicyiat. Hay gặp hơn khi bôi acid salicylic là các triệu chứng kích ứng, dấu hiệu viêm cấp thậm chí loét nếu dùng liều cao. cần đặc biệt chú ý khí bôi thuốc này cho những người mắc bệnh đái đường, hoặc những người có bệnh mạch máu ngoại vi…

Các chế phẩm dùng ngoài da thường ở dạng phối hợp thuốc, và thường phải sử dụng một số loại tá dược đặc biệt. Do đó tác hại gây ra cho một bệnh nhân có thể có nhiều biểu hiện khác nhau và do nhiều nguyên nhân gây nên. Để phòng tránh các tác hại trên chì nên dùng thuốc khi thật cần thiết và luôn luôn chú ý đến những phần phản ứng có hại mà thuốc có thê gây ra.

VH- SK và ĐS năm 1996

Hãy cảnh giác với chì

Chì được sử dụng rộng rãi trong đời sống dân sinh, tất cả mọi người đều bị nhiễm chì nhiều hay ít tùy thuộc vào môi trường mình tiếp xúc nhất là người dân sống ở thành thị sát đường giao thông, nguồn gây ô nhiễm chính trong không khí do khí thải ở động cơ chạy bằng xăng dầu. Ngày nay trong công nghệ hóa dầu người ta đã thay thế đừợc trên 40% lượng chì có trong xăng dầu. Tuy vậy chì vẫn là mối nguy cơ gây ô nhiễm ở khu vực cạnh đường giao thông cao tốc. Hơn nữa bụi chì thải ra khuếch tán trong không khí còn gây ô nhiễm đất, nước, rau, hoa quả. Người ta đã thấy hiện diện của vết chì trong thực phẩm, nước sính hoạt chảy qua ống kim loại, những thức uống có tính axit chứa đựng trong đồ gốm sứ trang trí, trong sữa bò, ở những con bò ăn cỏ gần trục giao thông chính.

Trong công nghiệp, chỉ có một ở nhiều ngành nghề : Khai thác kim loại, chế biến quặng chì, luyện kim, đúc giát tâm chì, sản xuất ắc quy, tráng men, in hoạ đồ gốm, sản xuất mực in, sản xuất cao su chì, xăng dầu, thợ hàn thiếc, sản xuất dây cáp, thợ nhuộm,thủy tính, in màu, chế tạo vũ khí, v.v…

Trẻ em nhạy cảm với chì hơn người lớn. Sau khi vào cơ thể, chì thâm nhập vào máu, rồi lên não. Chì vô cơ có thể gây nhiễm độc cấp tính (nạn nhân bị kích động nhưng cơn dữ dội, kèm theo bị rói loạn tiêu hóa, đầy bụng, buồn nôn), toàn thân suy sụp, mạch nhỏ khó bắt, chuột rút, co giật, gây viêm gan, viêm thận cấp, nạn nhân bí đái dẫn đến tử vong.

Nay tiếp xúc với nồng độ thấp, có thể xẩy ra nhiễm độc mạn tính biểu hiện bằng các triệu chứng như da tái xám gọi là da chì, đau bụng, táo bón,, mạch chậm, huyết áp tầng, có thể xuất hiện bệnh co duỗi ngón tay. Nếu không phát hiện sớm điều tri kịp thời có thể gây viêm thận mạn,

Nếu tiếp xúc với chì hữu cơ, bệnh nhần mất ngủ kéo dài, buồn nôn về đêm hoặc buổi sáng sớm, gây huyết áp giảm, thân nhiệt hạ, da xanh xao, cơ thể gầy yếu, nhức dầu, run rẩy, thần kinh bị rối loạn, tinh thần hoang tưởng, có thể gây xẩy thai ở phụ nữ.

Các biện pháp phòng tránh:

Hiện nay một sổ nước trên thế giới đã cấm sử dụng xăng pha chì chạy động cơ đốt trong. Ở nước ta, Nhà nước đã có văn bản không nhập xăng pha chì nhưng thực tế cũng còn nhiều khó khăn.

Không nên sử dụng đồ gốm trang trí chứa đựng thức ăn đồ uống, không dùng ống dẫn nước kim loại có chì. Hàng ngày ăn nhiều thực phẩm có nhiều canxi (canxi giúp cho cơ thể thải chì.)

Tại nơi sản xuất, nhà xưởng phải thông thoáng, có hệ thống xử lý bụi và hơi chì thích hợp để không làm ô nhiễm môi trường lao động và môi trường thiên nhiên. Không ăn uống, hút thuốc nơi có chì, không dùng quạt trần nơi có bụi.

Npười lao dộng phải sử dụng trang bị bảo hộ thích hợp, không rửa tay chân bằng xăng, hút xăng bằng miệng và làm việc xong phải tắm rửa thay quần áo sạch sẽ chú ý vệ sinh đầu tóc, lỗ tai lỗ mũi, hốc mắt.

Không bố trí phụ nữ có,thai hoặc đang cho con bú làm vỉệc tiếp xúc với chì.

Hàng năm phải tổ chúc khám sức khỏe nghề nghiệp, xét nghiệm chỉ tiêu chì huyết, nếu trong máu có lượng chì 300microgam/lít là ở tình trạng báo động. Nếu nồng độ chì tới 700 – 800 microgam phải vào bệnh viện chuyên khoa điều trị rồi chuyển sang làm việc khác.

Ở trẻ em, lượng chì trong máu 150 mícrogam/lít là biểu hiện nhiễm độc cần phải điều trị sớm.

BS Nguyễn Đức Dân- SK và ĐS năm 1996

Thời trang dành cho phụ nữ

Không chỉ có các cô gái trẻ,mới có quyền “diện” mà trên 30 tuổi, chúng ta vẫn “diện” được chứ sao! Thật ra tuổi 30 mới là thời kỳ “chín mùi” của một cô gái. Giai đoạn này, về tâm hồn, cô gái phong phú hơn, còn vóc dáng tuy không non như các cô gái mới lớn nhưng ở họ toát ra vẻ quyến rũ kỳ lạ. Như vậy tại sao chúng ta không tôn tạo vẻ đẹp đó ? Các nhà tạo mốt không qụên bất cứ ai. hè năm nay, các bạn gái đến tuổi băm hay tứ tuần sẽ xinh xắn và trẻ trung, gợi cảm với các bộ vest cách điệu cùng những chiếc mi-ni jupe hay váy ngắn, Nếu không quen mặc đầm, bạn có thể chọn bộ veston màu sáng (kem,xanh nhạt…) với áo sơ mi trắng bên trong. Thật lịch lãm và tựơi tắn.

Áo vest cổ lá sen, vạt tròn phía trước màu vàng-trắng tạo dáng vẻ nhẹ nhàng, thanh thoát.

Áo lửng cổ tròn rộng, ống taỵ dài xẻ phần dưới có đính nút kiểu to. Mi-ni jupe cài nút một bên có thể khoác thêm chiếc khăn voan cùng màu. Đeo hoa tai to, trông bạn sẽ gợi cảm lắm đấy.

Chọn màu tím Huế, áo cổ hình oval tay dài.nút bọc vải cùng mầu, ống tay xẻ một đọạn nhỏ cài 2 ,nút,váy xòe ngắn. Tóc uốn lọn ngắn, có đeo vòng hạt đá tim xanh. Thật mặn mà và duyên dáng làm sao!

MỸ NGỌC – SK và ĐS năm 1996

Ngọc trai không chỉ là thứ trang sức quý hiếm và đắt tiền, người chỉ đeo trong những dịp quan trọng mà nó còn có một số khả năng chữa một số bệnh như :  trúng gió, cảm mất tinh tường, … Với sự sáng tạo không ngừng, các nhà tạo mốt đã biến những viên ngọc thành một phần của thế giới thời trang, tô điểm cho cuộc sống của chúng ta là những viên ngọc trai xinh xắn được lựa chọn và gia công công phu. tỉ mỉ sẽ biến thành vòng tay, vòng cô. hoa tai. Và hơn thế nữa. nó được làm thành những chiếc bờm trang điểm cho mái tóc, thành những dây đeo mảnh mai trong chiếc váy dạ hội lộng lẫy, thành những chiếc ví đầm xinh xắn. Với những viên ngọc trai trang điểm bạn sẽ đẹp hơn, tinh khiết hơn.

Ngọc trai cũ nhiều màu như trắng đen, xám, xanh xám, đỏ, đen, …mỗi cái có một vẻ đẹp riêng. Màu trắng là màu của ngọc trai tự nhiên, hạt ngọc trai tự nhiên thì không phải lúc nào cũng tròn trịa và đều nhau. Nó có thể to hay nhỏ, hình tròn hay bầu dục, thậm chí nó còn méo mó nữa. Để có được một chuỗi ngọc trai người ta phải lựa chọn trong hàng nghìn, thậm chí trong hàng vạn viên ngọc để tìm được nhiều viên có cỡ cùng nhau và cùng màu sắc và kích cỡ. Vì vậy mà giá thành của nó rất cao. Có một bộ vừa đầy đủ nhẫn vừa hoa tai , vòng tay vòng cổ, đeo như cô người mẫu nào đó thì phải đợi chúng ta trở thành những triệu phú đô la.

SK và ĐS năm 1996

Giọng nói cũng là một thế mạnh

Chắc bạn đã từng gặp những người có khuôn mặt đẹp, dáng vẻ trẻ trung thể thao, ăn mặc đúng mốt nhưng khi họ nói chuyện để tán tỉnh cưa bạn thì bỗng nhiên mọi ấn tượng tốt đẹp tan biến. Không phải do họ nói năng thô lỗ kém vãn hóa và thiếu giáo dục. mà là do giọng nói của họ có vấn đề.

Một giọng nói hay phải là giọng nói ấm áp, có sức truyền cảm và có độ trầm, bổng cho mọi ngữ cảnh. Thông thường, người ta dễ có cảm tình với những người giọng trầm hơn là người giọng kim. Tuy nhiên, nếu người giọng kim khéo léo một chút sẽ biến giọng nói của mình thành một thế mạnh mà người giọng trầm không sao có được : đó là giọng nới nghe ríu rít, thanh thanh rất đáng yêu. Người có giọng nói hay phải là người làm chủ được âm thanh của mình trong mọi hoàn cảnh. Dù bạn đang vui sướng, phấn khởi hay lo lắng, tức giận… nhưng giọng nói của bạn cũng không được lạc đi, hoặc cao quá hay thấp quá.

Thật buồn tẻ khi nói chuyện với người có giọng nói run rẩy, nói dớt, nói nhanh quá hay chậm quá, giọng nói lại õng ẹo và kéo dài đến không sao chịu nổi. Hãy nói thật nhẹn nhàng, từ tôn. Hãy thổi cho giọng nói của bạn chút hồn sống động. Biết nhân mạnh vào những từ cần thiết của câu nói chắc chắn cách nói chuyện của bạn sẽ sống động hơn. Đàn ông không nên có giọng nói thanh như con gái, ngược lại, phụ nữ không nên vừa nói vừa cười hay giọng quá cao thành the thé.

Muốn biết được giọng nói của mình như thế nào bạn hãy mở một cuốn sách dày và nói vào đấy. Âm thanh của giọng nói dập vào cuốn sách và truyền đến tai bạn là âm thanh trung thực nhất. Khi biết dược trong giọng nói của mình có những điêm mạnh và điếm yếu) mọi việc sẽ trở nên đơn giản hơn. Muốn có giọng nói hay, bạn hãy làm theo cách sau :

– Hàng ngày vào buổi sáng nên dành từ 3-5 phút tập phát âm những từ như a, o, e, u, i

– Ghi lại tiếng nói của mình vào bảng rồi tự sửa những chỗ mà giọng nói của bạn chưa được quyến rũ lắm.

Làm theo nhũng điều trên chỉ trong một thời gian ngắn giọng nói của bạn sẽ được cải thiện rất nhiều. Nhiều người có giọng nói rất hấp dẫn và cũng thật riêng, một phần là do trời phú, nhưng quan trọng hơn là họ đã biết điều khiển giọng nói của mình. Nếu bạn quyết tâm chắc chắn bạn sẽ thành công.

SK và ĐS năm 1996

Máu nhân tạo P2

lượng tương đương, oxygept có thể giải phóng ra lượng oxy gấp 3 lần, với điều kiện là bệnh nhân phải được cung cấp oxy đầy đủ.

Một hướng nghiên cứu khác là sử dụng ngay hemoglobin làm chất thay thế máu, chất vận chuyền oxy sẵn có trong tự nhiên. Người ta có thể chiết suất hemoglobĩn từ máu người, hoặc tốt hơn, từ máu các động vật như bò hoặc lợn. Ngày nay, người ta còn sử dụng được cả một số vi khuẩn đã được biển đổi về mặt cấu trúc gen để tổng hợp ra được hemoglobin. So với việc dùng máu, sử dụng hemogỊobin không cần phải quan tâm đến vấn đề nhóm máu, nên tiện lợi hơn.

Nhưng rất đáng tiếc là khi hẹmoglọbin không còn gắn vào các hồng cầu như ở trong máu, thì chức năng vận chuyền oxy của nó cũng không còn nữa. Do dó những phòng thí nghiệm sản xuất ra hemoglobin theo công nghệ di truyền đã phải tìm cách biến đổi các gen để tạo được những dưỡng nôi hóa học vững bền giữa bốn thành phần của phân tử hemọglobin. Dùng loại hemoglobin “tái tổ hợp” này, sau khi đã tinh chế thì không còn nguy cơ gây nhiễm virut nữa. Mặt khác, khi hemoglobin không còn gắn vào hồng cầu thì nó mất khả năng giải phóng ra oxy đã gắn vào nó. Cần phải làm giảm được “ái tính” của nó đối với khí oxy. Nhưng, nếu ái tính này càng yếu thì hemoglobin càng có xu hướng tự oxy hóa bản thân mình. Người ta đã nghĩ đến cách bọc quanh hemoglobin một màng lipit, nhưng giá thành của sản phẩm này tại qua cao, các chuyên gia đã ước tính nếu giá thành của 100 gam hemoglobin nhân tạo này vượt quá 150 dôla, thì sản phẩm thay thế máu sẽ không được thị trường chấp nhận. Các màng lipit kể trên có nguy cơ tích tụ lại trong các mạch máu, tạo ra những đám cặn có thể gây ra các rối loạn tim mạch. Một số cống trình nghiên cứu hiện nay đang tìm cách thay đổi cấu trúc hemoglobin để giải quyết mâu thuẫn giữa ái tính với oxy và hiện tượng tự oxy hóa của hemogiobin nhân tạo này. Nhiều phòng thí nghiệm đang ra sức tìm kiếm dược sản phẩm thay thế máu với giá thành có thể được thị trường chấp nhận như công ty Mỹ Somatogen phối hợp với hãng sản xuất Lilly nghiên cứu về một loại hemoglobin tái tổ hợp ít gây ra hiện tượng co mạch, công ty Northtield ở gần Chicago đưa ra một loại hemoglobin trưng phản, nguồn gốc người có ưu điểm là thời gian lưu lại trong mạch máu lâu hơn với sản phẩm mang tên là Polyheme, công ty đa quốc gia Baxter cũng đang tiến hành nghiên cứu ở Thụy Sĩ về một loạị hemoglobin được biến đổi có nguồn gốc người. Các công ty kể trên đang hy vọng rằng sản phẩm của mình có thể đưa ra thị trường trong năm 1997 tới.

Ngoài mục đích để sử dụng thay thế máu trong những trường hợp xuất huyết, quá nặng và bất ngờ, các sản phẩm máu nhân tạo còn có nhiều ứng dụng “đắt giá” trong khoa ngoại. Chẳng hạn : ở Pháp, mỗi năm các bệnh viện tiêu thụ tới hơn 1,2 triệu lít máụ. Các sản phẩm thay thế máu có thể làm giảm nguy cơ thiếu oxy ở cơ tim trong thời gian tiến hành các phẫu thuật tạo hình ở mạch máu. Các thầy thuốc khoa thần kinh cũng thấy; sản phẩm máu nhân tạo có thể làm giảm các di chứng do tai biên mạch máu não. Còn các thầy thuốc khoa ung thư cũng hi vọng với việc sử dụng các sản phẩm thay thế máu để làm biện pháp tăng cường cung cấp oxy tới các chỗ, từ dó làm cho các u này dễ bị liệu pháp phóng xạ tiêu diệt.

Thày dược trước ngày đưa ra thị trường các sản phẩm máu nhân tạo đã sắp tới, nên viện nghiên cứu quốc gia về sức khỏe ở Mỹ, cơ quan nghiên cứu này tương đương với tổ chức nghiên cứu Inserm ở Pháp, đã tăng ngân sách đầu tư cho các công trình nghiên cứu về sản phẩm thay thế máu từ 3 triệu lên tới 6 triệu đô la.

VŨ NGỌC THÚY (Theo “Science et Vie số 942, 3/96) SK và ĐS năm 1996

Máu nhân tạo

Chức năng chủ yếu của máu là vận chuyển oxy từ phải dến các cơ quan và mô trong cơ thể. Chính các hồng cầu trong máu đảm nhiệm việc vận chuyển này nhờ các phân tử hemoglobin chứa trong đó. Hemogloòin làm cho máu có màu đỏ. là những phân tử có chứa sắt với cấu trúc khá phức tạp, môi phân tử này có 4 phân tử hơn là những chỗ để oxy gần vào và chuyển hemoglobín thành xyhemoglobin có màu đỏ tươi.

Nhu cầu máu trong điều trị rất cao ; ngoài chỉ định cấp cứu trong các trường hợp xuất huyết nặng do chấn thương, bỏng… máu còn cần thiết để điều trị một số bệnh hiểm nghèo. Để kịp thời có lượng máụ cung cấp cho điều trị, ở nhiều nước đã thành lập những “ngân hàng“ máu. Nhưng hiện nay, các ngân hàng này đang đứng trước nguy cơ bị “sập tiệm” với hai lý do chính : – người bán máu ngày càng ít ; nhưng nhất là nguy cơ máu có thế lây truyền nhiều bệnh, trong đó đáng lưu ý là tình trạng nhiễm HIV/AIDS. Do đó, từ lâu nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã lao vào tìm cách chế tạo rạ một chất lỏng có thể thay thế được máu.

Một hướng đầu tiên vạch ra ngay từ đại chiến thế giới thứ hai là sử dụng các dẫn chất pecíluorocacbua với đặc tính âm dung môi hoàn hảo cho các chất khi mà hoàn toàn “trơ” (tức là không gây ra phản ứng gì) về mặt hóa học và học tân chất đầu tiên đưa ra ở trường với tên là ruluosol để làm nhiệm vụ vận chuyển oxy trong cợ thể, có nhược điểm là thải trừ rất khó ra ngoài và gây ra nhiều tác dụng phụ rất khó chịu, như gây ra sốt cao.

Tiếp tục nghiên cứu theo hướng đó trong vòng hai mươi năm, phòng thí nghiệm AHiance Pharmacentĩcal ở miền Nam Calitomi (Mỹ) mới đây đã đưa ra thị trường sản phẩm thay thế máu với tên oxygent, dưới dạng chất lỏng trong suốt, trông như nước, có khá năng thu giữ lại khí oxy trong các phế nang ở phổi và sau dó, qua hệ thống các mao mạch đem phân phối lại đến từng bộ phận trong cơ thế. Về thành phần hóa học, oxygent là một nhũ dịch nước chứa chất pectluobron (tên hóa học là pecíluoro – octyl – bromic); chất này là một tluorocacbua có thể thải trừ dễ dàng ra ngoài cơ thể (dưới dạng hơi qua không khí thở ra ở phổi. Bên cạnh dó, oxygent có chứa các photpholipid,t là những chất hoạt diện mà cơ thể dung nạp dễ đàng. Một ưu điểm khác của sản phẩm này là bảo quản được trong thời gian khá dài (tới một năm rưỡi ở nhiệt dộ 5°c và hơn 4 tháng ạ 30°C) tương đương 40 ngày dối với máu tự nhỉên. Mặt khác, so với các sản phẩm thay thế máu đang được nghiên cứu, giá thành cùa oxygent lại rẻ hơn từ 6 đến 10 lần (100 gam giá khoảng 30 đôla Mỹ).Sau nữa, theo giới thiệu của phòng thí nghiệm nói trên, so với hemơglobin ở cùng một

SK và ĐS năm 1996

Bệnh bò điên

Trong thời gian qua trên các phương tiện truyền thông đại chúng đều đăng tải về “bệnh bò điên” của nước Anh. Lệnh cấm nhập khẩu thịt bò từ Anh sang các nước, đặc biệt là các nước châu âu đã gây nên những phản ứng tiêu cực của Chính phủ Anh với hàng loạt các chính sách của Liên minh châu Âu, thì theo qui định các sách của khối trong mọi lĩnh vực hoạt động chỉ có giá trị khi các nước thành viên (15 nước) nhất trí 100%.

Để giúp bạn đọc có được những thông tin chính xác về bệnh này, chúng tôi xin giới thiệu những kết luận chính thức của Tổ chức y tế thế giới (WHO) như sau:

1- Bệnh viêm não bò, còn gọi là “bệnh bò điên*, thuật ngữ tiếng Anh : Bovine SpongRorm Encephatopathy (BSE) bệnh viêm não dạng xốp bọt biển. Nó được gọi tên trên là do bệnh tác động chu yếu lên não bò và khi xét nghiệm vi thể não, chúng giống như miếng xốp bọt biển.

Bệnh BSE được phát hiện đầu tiên ở Anh vào năm 1986. Đó là loại bệnh truyền nhiễm ở nhiều loại động vật có sừng. chủ yếu thông qua đường tiêu hóa bò nhiễm bệnh do ăn phải thức ăn có nguồn gốc từ các gia súc khác đã bị bệnh (bột xương, bột thịt…):

Chưa có cơ sơ khẳng định bệnh lây truyền từ mẹ sang con hoặc từ con đường nào khác.

2- Bệnh CreulliekM Jakob (CJ) biến thể.

Bệnh CJ là loại bệnh viêm não dạng xốp ở người. Nhóm chuyên gia của WHO dã xem xét các vấn đề có liên quan về bệnh lý, lâm sàng trong 10 trường hợp tử vong vì bệnh này ở Anh và thấy rằng bệnh này xảy ra ở những lứa tuổi trẻ hơn so với các loại bệnh CJ điển hình thường gặp, họ cũng đã phát hiện ra sự khác biệt về bệnh lý và lâm sàng giữa hai bệnh náy. Từ đó các chuyên gia đã đi đến kết luận là chưa có sự liên quan rõ rệt giữa bệnh BSE và bệnh CJ. Những ý kiến cho rằng nguồn lây bệnh CJ từ BSE còn là giả thuyết và cần phải có những nghiên cứu khẩn cấp thêm về hai bệnh này.

Do vậy WHO khuyến nghị về bệnh viêm não bò BSE như sau:

– Không phải bất kỳ loại động vật nào có biểu hiện mắc bệnh BSE cũng có thể truyền bệnh qua thức ăn cho người hoặc gia súc.

Các nước phải bảo đàm việc giết mỏ súc vặt và bảo đàm an toàn tránh lây lan bệnh. Đồng thời họ phải thực hiện các biện pháp để khẳng định đã loại trừ được các tác nhân truyền bệnh.

– Các nước cần duy trì việc kiểm soát và thông báo bắt buộc nguồn gốc thực phẩm từ động vật có sừng, theo các qui định của cơ quan dịch tễ quốc tế ở Pari (Pháp).

Tại các nước đang có dịch bệnh BSE trong động vật có sừng, không được dùng các mỏ của các động vật này làm bất kỳ lọai thức ăn nào cho người và gia súc.

Các nước cần cấm dùng các mô động vật nhai lại làm thức ăn cho gia sức:

– Với các thực vật liên quan khác WTO khẳng định sữa không phải là nguồn lan truyền bệnh BSE. Sữa và các sản phẩm từ sữa là an toàn, thậm chí ở các nước có tỷ lệ mắc BSE cao.

– Gelanti thực phẩm cũng là sản phẩm an toàn cho người và gia súc trừ khi có lẫn các hóa chất kích thích sự lây nhiễm BSE

– Mỡ cũng an toàn nếu các qui trình chế biến thực hiện theo qui định

– Đối với các sản phẩm y dược khác làm từ thực phàm ở dưới dạng tiêm và uống, cần có các biện pháp nhằm hạn chế tối thiểu sự truyền bệnh BSE theo những quy định do WHO đưa ra vào năm 1991

– Bệnh BSE cần được nghíên cứu thêm đồng thời cần hỗ trợ đặc biệt cho công tác chẩn đoán, dịch tễ học bệnh nảy ở người và gia súc.

Về bệnh Clauưíekli Jakob (CJ):

Bệnh này hiện chỉ tồn tại ở nước Anh, nhưng cũng căn tiếp tục xem xét khả năng tồn tại của nó ở các nước khác. Hiện nay phần lớn các giả thiết cho căn bệnh CJ biến thể là sự lây nhiễm từ BSE nhưng cơ sở về mối liên quan giữa chúng cần phải dược xem xét thêm. Các công trình nghíên cứu về bệnh CJ cần được tiến hành trên phạm vi toàn thế giới.

QUỐC ĐÔNG (Theo Press retease WHO 15-4-1996)

SK và ĐS năm 1996

Coi chừng những bệnh truyền hình

Những giờ nghỉ ngơi nhàn rỗi, ngồi xem trùýền hình quả là thích thú Qua màn ảnh nhỏ chúng ,ta có thể tìm biết được nhiều điềụ bổ ích những hình ảnh đẹp của nhiều đất nước xa xôi, xem những phim truyện hay. những trận đấu bóng sôi nổi, những thông tin thời sự nóng hổi trên khắp hành tinh.

Nhưng hãy coi chừng, nếu các bạn quá ham mê truyền hình, suốt ngày ngồi trước máy, thuê băng hình về xem liên miên những phim không thích hợp bỏ bê cả công việc, học hành thì tác hại sẽ rất lớn. Ngoài ra về mặt sức .khỏe những người qụá ham mê truyền hình con dễ mắc một số bệnh được người ta gọi là những “bệnh truyền hình”. Nhiều nhà khoa học đã theo dõi nghiên cứu những người ham mệ truyền hình ở nhiềụ nước và đã tổng kết được một số ‘bệnh truyền hình” chính sau đây :

– Bệnh mắt : Những người xem truyền hình quá lâu và thường xuyên rất, dễ bị giảm thị lực, cận thị nhất là khi ta xem truyền hình quá gần.

– Bệnh lùn: Một nhóm các nhà khoa học mỹ đã điều tra hàng ngàn trẻ em hàng ngày đang xem truyền hình quá nhiều thấy tất cả những em này đều thấp hơn những em cùng lứa tuổi 1 – 3 cm. Các chuyên gia cho rằng xem truyền hình quá lâu sẽ giảm thời gian hoạt động vui chơi ngoài trời và chính những hoạt động này đã có tác dụng tốt đến sự phát triển chiều cao của trẻ em.

Ngoài ra, các em xem truyền hình quá nhiều thường thức khuya, thời gian ngủ ít. kích thích tố sinh trưởng cũng bị giảm, do đó giảm phát triển chiều cao.

Bệnh kém tiêu hóạ: Ngồi xem truyền hình quá nhiều, thiếu vận động làm suy yếu chức năng cua bộ máy tiêu hóa, nhất là những ngườí vừa ăn vừa xem truyền hình càng dễ mắc các bệnh rối loạn tiêu hóa.

Bệnh tê chân : Thời gian ngồi xem truyền hình quá dài làm các mạch máu ở hai chi dưới bị ép lại quá lâu các cơ thiếu hoạt động, lâu ngày có thể dẫn đến tình trạng hai chân bị tê mỏi.Đâỵ là một tin đáng buồn được người ta quan tâm đến nhiều vì bệnh béo phì đang là một tai vạ thật sự của các nước phương Tây. Theo những nghỉên cứu gần đây thì hiện tượng phát phì này đã xụất hiện ở nhìều nước Đông Nam Á và Thái Bình Dương không những ở người lớn mà cả ở trẻ em. mà sự phì nộn lúc nhỏ chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng quá trọng lượng đáng buồn trong tương lai- Ở Xin-ga-po số trẻ em nữ 6 đến 12 tuổi bị béo phì chiếm 12%, còn ờ Phi-lip*pin, số trẻ phát phì tăng gấp ba trong 10 năm qua. Tình trạng này cũng đang xuất hiện ở Ô-xítrây-lia nơi người ta ước tính cứ 3 trẻ em có một bé quá béo. Những trẻ em này đều có liên quan đến chuyện xem truyền hình hàng ngày quá nhiều. Các nhà nghịên cứu cho rằng càng ngồi xem trụỵền hình nhiều trẻ càng mập và trở nên không cân đối vì chúng ít vận động.

Một nghiên cứu khác ở Mỹ cũng xác nhận hiện tượng phát phì ở trẻ em quá ham mê xem truyền hình đối với phụ nữ nguy cơ béo phì càng lớn hơn.

SK và ĐS năm 1996

Dị ứng với tiếng động

Hệ thống thần kinh của chúng ta vốn vô cùng nhạy cảm . Nếu chúng ta cảm thấy thư giãn khi nghe một dòng nhạc êm dịu thì ngược lạ chúng ta cũng không khỏi ‘điên đầu’ lúc phải nghe những tiếng động ầm ĩ chung quanh Không chỉ tiếng động lớn mới quấy rối sức khỏe chúng ta mà cả những âm thanh dai dằng được lặp đi lặp lại cùng gây khó chịu không ít

Trong phi cơ rào rao bay ngang qua dù sao nghe vẫn dễ chịu hơn tiếng bước chân lạo xạo trên rồi chiếc hộp bí nghiền, tiếng hòn bi chạy qua chạy lại của lũ trẻ đang chơi, tiếng cánh cửa đập lạch phạch hàng giờ. Chính những tiếng động tuy không ồn ào nhưng rền rĩ. vọng đi vọng lại vào đôi tai chúng ta, là một trong những nguyên nhân của bệnh mất ngủ và lo âu .Thoạt đầu, ‘chúng* có thể gây cho ta sự xáo trộn trong giấc ngủ. tư tưởng khó tập ‘trung, nỗi lo sợ vu vơ và ăn mất ngon. Sự căng thẳng thần kinh có nguy cơ gây tăng huyết áp. hệ tiêu hóa và tim mạch hoạt động không điều hòa Muốn tránh sự nguy hại của tiếng động, chúng ta cần tránh ngay từ đầu. Càng chịu đựng, càng kéo dài sẽ gây nên nhiều biến chừng trầm trọng hơn. Nhà trắc nghiệm tâm lý học Fréòénque Bosse của Bệnh Viện Saínt Anne đã khuyến cáo như thế. Nêu cần thiết. bác sĩ hay nhà thần kính họoc sẽ cho bệnh nhân uống vài loại thuốc ngủ hay an thần Trường hợp nặng hơn thì họ phải được bác sĩ chuyên khoa điều trị hẳn hoi. Theo bác sĩ Fréòénque Bosse một phương pháp mới được áp dụng để hóa giải chứng dị ứng với tiếng động đó là  khoa “tâm lý trị liệu cơ thể giúp bệnh nhân hồi phục sự cân bằng của trí nào và có thể chịu đựng được tiếng động. Bước cuối cùng là can thiệp nhằm giảm thiểu những tiếng động không cần thiết. Song song đó, bác sĩ sẽ tập cho bệnh nhân tập trung tư tưởng vào chính mình. luyện tập những phương pháp làm thư giãn thần kinh như Thời gian thực hành có thể kéo dài 45 phứt mỗi tuần, theo từng nhóm hoặc cá nhân, đều đặn từ 9 đến 18 tháng cho đến khi bệnh nhân cảm thấy thoải mái, lấy lại niềm tin và sự ổn định tinh thần.

Thống kê cho thấy đa số phụ nữ mắc chứng ‘dị ứng với tiếng động’, nhiều gấp đôi nam giới và ngườí sống ở thành thị dễ bị bệnh này hơn người sống ở thôn quê.

ANH AN (Theo F.A) – SK và ĐS năm 1996

Bạn bè nói về viện

Bác sĩ Lê Nguyên Bằng – giám đốc sở y tế Đắc Lắc : “Nếu như hôm nay, Đắc Lắc đã có một hệ thống y tế dự phòng đảm nhận được việc phòng chống dịch và triển khai các chương trình y tế cộng đồng không thua kém gì các tỉnh khác là có phần đóng góp rất lớn của Viện vệ sinh dịch tễ (VSDT) Tây Nguyên. Bởi vì ngay sau khi thành lập viện đã phối hợp rất chặt chẽ với địa phương đảm nhận giám sát và phòng chống dịch trong bối cảnh bệnh dịch xảy ra khắp nơi, từ thành thị đến các huyện xa, từ buôn làng đến các vùng kinh tế mới. Bên cạnh nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, viện dã tham gia tổ chức, huấn luyện mạng lưới vệ sinh phòng dịch tại Đắc Lắc là khu vực đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ thầy thuốc đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên .

Bác sĩ Đinh Minh Chánh, giám đốc sở y tế Gia Lai:

“Viện VSDT Tây Nguyên đã có rất nhiều đóng góp tích cực trong công tác vệ sinh phòng dịch ở Gia Lai, đã giúp tỉnh phòng và dập dịch hạch, dịch tả, sốt xuất huyết, cũng như các hoạt động về vệ sinh lao động, vệ sinh thực phẩm… nhất là trong những năm đầu nguồn lực của trạm VSDT tỉnh vừa yếu vừa thiếu. Sự trưởng thành của trung tâm y tế dự phòng Gia Laỉ trong 20 năm qua có phần đóng góp không nhỏ cùa lãnh dạo và cán bọ viện VSDT Tây Nguyên”.

Bác sĩ Vũ Tuân: giám đốc trung tâm y tế dự phòng Kon Tum.

“Khi Kon Tum mới tách tỉnh (10-1991) bối cảnh vệ sinh phòng dịch như một bài toán khó giải, tình hình đầy khó khăn thử thách, mọi nguồn lực của trung tâm y tế dự phòng thiếu trầm trọng, cơ sở làm việc tạm bợ… Sau 4 năm nỗ lực hoạt động, đến nay trung tâm chúng tôi đã đạt đựợc nhiều kết quả rất đỗi tự hào : khống chế đáng kể tỉ lệ mắc và chết do các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, phát hiện nhanh và dập dịch kịp thời, liên tục được khen thưởng về thành tích TCMR và AIDS, các chương trình CDD, ARl, VSMT, vitamin A và VSTP được đẩy mạnh và có chất lượng… Đạt được điều dó là do trung tâm đoàn kết nhất trí cao… và đặc biệt là do sự có mặt của viện VSDT Tây Nguyên ngay từ những ngày đầu đã chỉ đạo sát, cùng bàn bạc tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ đúng mức, hãng năm đều có vài chục lượt cán bộ đến hướng dẫn, giúp dỡ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ và động viên kịp thời…”

Giáo sư Hạ Bá Khiêm – viện trướng viện Pasteur.

“…Sự ra đời của viện VSDT Tây Nguyên là biểu hiện chính sách cũ Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên… Là thành viên: của hệ thống các viện sức khỏe quốc gia, viện VSĐT Tây Nguyên đã. cùng với viện VSDT Trung ương, viện Pasteur Nha Trang và viện Pasteụr TP. Hồ Chí Minh thường xuyên gắn bó hợp tác với nhau đế phục vụ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Do tập trung làm tốt công tác phòng chống dịch (hạch, tả, sốt xuất huyết…) mà trong nhiều năm nay các bệnh trên đã không còn là vấn đề nghiêm trọng ghê gớm tác yêu tác quái đến tính mạng đông bào. Do tập trung chỉ đạo thực hiện một số chương trình y tế quốc gia Quan trọng (tiêm chủng mở rộng, thanh toán bại liệt…) mà sức khỏe của người dân đã được cài thiện rõ rệt.. Viện VSDT Tây Nguyên đã có một phần đóng góp rất lớn trong những thành công ấy…”

SK và ĐS năm 1996