Quãng đường người bệnh đến với thày thuốc

Làm cách nào để rút ngắn lại quãng đường người bệnh đến với thày thuốc để người bệnh và thân nhân của họ không phai lên tánh, lên trung ương ? Thiết nghĩ, Nhà nước cần có chế độ, chính sách đãi ngộ xứng đáng cho cán bộ miền xuôi lên công tác miền núi. Mặt khác tình cần có kế hoạch đào tạo cán bộ có chuyên môn sâu là người địa phương để phục vụ trực tiếp cho đồng bào ở quê hương mình. Cần thiêt phải xây dựng cơ sở vật chất khang trang, có trang thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của dân theo quyết định tuyến không phân biệt miến xuôi, miền núi. Có như vậy công tác khám chửa bệnh mới đạt kết quả cao hơn, mới giảm bớt được nỗi khó khăn vất vả cho nhưng người nghèo, cho đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa mỗi khi cần KCB. Cần thiết phải bố trí đủ cán bộ y tế cho tuyến xã, y tế thôn bản, bời việc chẩm sóc sức khỏe ban đầu và thực thỉ mọi chương trình y tế quốc gia, giảm bệnh tật, tăng sức khỏe nhân dân đều do y tế xã. y tế thôn bản trực tiếp thực hiện.

Ông được coi là biểu tượng của phong trào giải phóng Palestin -Tổ quốc Palestin. Các thế lực phản động luôn tìm cách ám hạỉ ông nhung Araphaỉ vẩn đàng hoàng hoạt động giữa thế gỉới Ả Rập.

Biết bao truyền kỳ huyền bí trong dân chúng Palestin quanh vị lãnh tụ xuất sắc này.
Dù đến đâu, ngài Araphát cũng chỉ dược ăn xuất ăn do ngưòi giúp việc mình chuẩn bị; Còn nhiều kẻ quá khích muốn ám hại ông. Cuộc đầu độc nổi tiêng năm 1970 & Liban, cũng do cảnh giá, ông không bị trúng độc.

Đã trên 60 tuổi, phải nay dây mai dó, ông Araphát mang theo hành lý rất đơn giản. Một áo chống dạn, một bộ dề thề thao sâm màu, tay deo đồng hổ, chân dận ủng ; ngoài cung là bộ quân phục cua lục quân Anh. ổng có 5 bộ rưa rứa, có cải dã dùng gần 20 năm. Trông ông dỏng bộ vào thường gần gần với người du mục.

Lần mặc âu phục gần nhất của ông là năm 1968 ; Khi ấy ông ghé qua Pari trên đường đi ăn giỗ. ông không thích mặc âu phục. Người lãnh dạo tó chức giải phóng Palestin ưa dùng bộ đồ du kích. Khi tham dự các hội nghị quốc tế, các buổi lê nghi, ông khoác thêm cái khăn rẳn truyền thống ke ò trắng den. Cứ 3 tháng một lần, ông sửa bộ râu rậm của ông.

PV- SK và ĐS năm 1996

Chất lượng cán bộ y tế chuyên môn

Chúng tôi hỏi một số cán bộ đang công tác ở bệnh viện huyện, bệnh viện y học dân tộc, bệnh viện đa khoa về đời sống của CBCNV thì đều nhận được câu trả lời : Hàng tháng ngoài tiền lương theo cấp bậc đào tạo (bác sĩ, y sỹ, dược sĩ, kỹ thuật viên, y tá, nhân viên…), trung bình mỗi người thu nhập thêm từ 8.000 đ -n 10.000 đ (100.000 đ – 120.000/năm),

Một vài con số về hoạt động chăm sóc y tế :

Khỏi phải nói năm 1995 hoạt động y tế toàn tinh làm được những gì, chúng tôi, chỉ xin trích dẫn một vài con số dưới đây:

Các chương trình y tế quốc gia đều triển khai thực hiện. Tiêm chủng mở rộng cho trẻ tứ 0 – 6 tháng tuổi đạt ở 94,7%, trẻ dưới một tuổi đạt 85,6%. Trẻ a từ 6 đến 60 tháng tuổi uống vitamin A đạt 100%. Số dân được phòng chống sổt rét là 203.800 người (năm 1995 cấp cho dân 9.605 màn tiêm permethrin). Tỉnh đã thực hiện toàn dân ăn muối iôt (kế 1 hoạch 1995 là 3.440 tấn đã thực hiện 7 4259 tấn, đạt 123%). Chúng tồi xuống xi măng trường Hà hải dấn hiện đang in muối Ià gì ? Họ trả lời: ăn muối trộn iôt – có mùi 1 vị gi khác muối thường không ? * không; thế bạn có mua muổì thưòmg không ? – có ; mua để ăn hay làm gì ?-cho trâu bò và heo ăn.

Năm 1995, bệnh ‘viện đa khoa tỉnh khám 41.076 lượt người (đạt 103% kế y hoạch) ; điều trị ngoại trú cho 7.820 n người đạt 1% kế hoạch) ; điều tri nội trú cho 1.371 người. Thực hiện phẫu thuật 751 trường hợp (có 442 mổ cấp cứu). Kiểm tra chéo cuối năm bệnh viện xếp loại khá (650 điểm). Chát lượng cán bộ chuỵên môn.

Ngành y tế hiện có 1.370 cán bộ, riêng tuyên xã chi có 376 người (thiếu khoảng 50%) các tuyến huyện, trạm, bệnh viện tuyến tỉnh… đều thiếu cán bộ. Đã thiếu lại còn yếu nửa, bởi chỉ có cán bộ chuyên môn cao nhất là bác sỹ, dược ở đại học, thậm chí bác sĩ chuyên khoa cấp I, cấp n cũng không có (một số hiện đang đi học). Điều này đã hạn chế đến kết quả công việc. Vậy thì bao giờ miến núi mới tiến kịp miền xuôi ? có ai đó ở miền xuôi nghĩ rằng có chuyên môn sâu lên công tác ở miền núi sẽ không phát huy được năng lực ? Và cũng có ai đó ở miền núi nghĩ rằng được đi học, được đào tạo chuyên môn cao trở về công tác sẽ hạn chế nghiên cứu. Cao Bằng xa trung ương gần 300 km. Còn từ xã lên huyện cũng phải đi từ 1 đên 2 ngày đường. Vì thế người dân khi măc bệnh chỉ mong được chữa khỏi ờ tuyến huyện cùng ấm no là ở tình, không ai muôn phải đưa về Hà Nội để chữa, bời đi lại xa xôi vất vả, lại tổn kém, quá sức của người dân tộc vốn xưa nay rất nghèo.

Một vài suy nghĩ

PV- SK và ĐS năm 1996

Bệnh viện đa khoa

lại càng cần được xem xét củng cố nâng cấp hoặc xây dựng mới. Nhiều nơi như Trạm sét rét, Bệnh viện y học dân tộc ờ vị trí quá sâu, nhả làm việc và khu vực điều trị quá chật hẹp, manh mún không đáp ứng được cho công tác khám chữa bệnh. Duy chi có trạm vệ sinh phòng dịch là cơ sở mới được xây dựng khang trang, có trang thiết bị mới, cán bộ ở đây rất phấn khỏi, làm việc hăng hái, hoàn thành hết nhiệm vụ năm 1995. Xí nghiệp liên hiệp được (thực ra nhiệm vụ đang thực thi không đúng với tên gọi) có một cơ sở sàn xuất (14 người) chi làm được một việc là pha thuốc bổ đóng chai, không sản xuất tân dược bởi thị trường hẹp, nhu cầu ít. Có 13 cửa hàng thuốc & 13 huyện, thị phục vụ cho bệnh viện huyện vồ cho dân, vốn liru động có 310 triệu, năm 1995 doanh số mua vào 1,3 tì và bốn ra được 1,7 tỉ (chủ yếu là mua thuốc của Liền hiệp các xí nghiệp dược cung cấp cho nhu câu khám chữa bệnh của y tế các tuyến).

Công tác BHYT được triển khai từ đầu năm 1993. Có một văn phòng đặt ờ bệnh viện đa khoa và 13 chi nhánh ở huyện, thị. Năm 1995 có 36.671 người tham gia bảo hiểm, thu được 2.887 triệu đồng, ký hợp đồng trách nhiệm khám chữa bệnh (KCB) cho đổi tượng có thẻ ở 18 bệnh viện (13 bệnh viện huyện, thị và 5 bệnh viện tuyến tính). Trong thống kê BHTT đã chi KCB cho 9.953 người trong đó điều trị nôi trú 2.254 ngưòi. Đến nay mới có 3 cơ quan chữ thập đỏ. Ủy ban dân số bảo vệ chăm sóc trẻ em, Đoàn thanh niên) mua BHYT nhân đạo, được 11 thẻ cho lớp học tình thương ở huyện Hòa An.

Bệnh viện đa khoa tình được khởi công xây dựng từ năm 1984, đến nay chưa xong nhưng vẫn phải thu đung bệnh nhân điều trị. Chất lượng công trình quá kém (các phòng vệ sinh ở tầng 2, 3 không sứ dụng được vì thấm lâu).

Tầng 3 của bệnh viện dành cho cơ quan tới sở y tế làm việc (Sở y tể hiện tại vẫn chưa có trụ sở). Một số phòng & tầng 2 phải dành cho một số trạm chuyên khoa như Trạm phòng chống các rối loạn do thiếu iôt (IDD) và Bảo hiểm y tế.

PV- SK và ĐS năm 1996

Triển khai thực hiện quyết đinh việc trả lương theo định biên cho y tế cơ sở

– Tuyến xã :

Theo báo cáo Sở y xế toàn tình hiện có 152 xã trong tổng số 224 xã) có cơ sở nhà trạm trong đó 102 là nhà gạch cấp 4, 50 cơ sở lợp ngói vách bảng đất, 72 xã chưa có trạm y tế (trong số 72 xã này thì 64 nhờ trụ sở ủy ban xã ; 8 nhờ nhà cán bộ y tế để làm nơi hoạt động y tế).

Quyết định 58 của Thù tướng Chính phù Cao Bằng đã triển khai thực hiện quyết đinh việc trả lương theo định biên cho y tế cơ sở. Tuy vậy chắc chắn rằng cán bộ y tế xã vần còn phải lo làm các công việc khác (như làm rẫy, chạy cha…). Hiện nay toàn tình có 376 cán bộ y tế xã, bình quân mỗi xả chì có 1,7 cán bộ y tế. Theo quy định của Nhà nước, xã có trên 2.000 dân đến 3.000 dặn được biên chế từ 3 đến 4 cán bộ. Nếu chi tính bình quân cứ 1.000 dán có một cán bộ y tế xà thỉ hiện thòi còm thiéu 244 người. Ví như huyện Hà Quảng: có 18 xã (9 xã biên giói) thỉ chỉ có 5 trạm y tế có nhà cấp 4, còn 13 xô chưa có trạm y tể, trong đó 3 xã không có trạm về cùng không có cán bộ (gọi là xã trắng). Trang tầm y tế hụyện phải cứ cán bộ hiện phải xuống xã đế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Theo đinh biên, toàn huyện phái có ít nhất 54 cán bộ y tế xã, vậy mà nay mới chỉ có 24 người.

Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, các chương: trình y tế quốc gia, phát hiện bệnh dịch, khám chữa bệnh, đỡ đẻ, dân số – kế hoạch hóa gia đinh… từ việc nhỏ nhất đến việc lớn nhất có liên quan về sức khỏe đều cần đến cán bộ y tế – mà người gần nhất, sớm nhất lại là cán bộ y tế thôn bản, y tế xã. Để đạt được mục tiêu “Làm cho bệnh tật ngày cầứg giảm, sức khỏe ngày càng tăng, tuổi thọ ngày càng cao, giông Dài ngày càng tốt , ngành y tế cần tăng ewònf chất và lượng cho tuyến xả với 3 nộì dung : Có cơ sở làm việc khang trang, đủ cán bộ y tế có trình độ chuyên mồn, có đầy đủ trang thiết bi kỹ thuật mà tuyến xã cần có (do ngành ỵ tế quy định). Cũng cằn đảm bảo tiền lượng “đủ sống” cho hộ, định kỳ hàng năm bổ túc nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, bổ sung trang bị – duy trì nâng cấp cơ sở vật chất cho trạm y tế xã. Riêng vói vùng cao Nhà nước từng bước cùng địa phương tạo ra màng lưới giao thông thôn bản – xã – huyện – tỉnh. Bởi giao thông mà thuận tiện thì mọi vấn đề kinh tế – xã hội mới có khả năng cắt đứt vòng luân quẩn của sự đói nghèo – bệnh tật.

– Tuyến huyện, tỉnh :

Toàn tỉnh hiện có 13 bệnh viện huyện, thị và 20 phòng khám đa khoa khu vực.

Đa sổ là nhà cáp 4, thậm chí ỉà nhà vách đắt lợp ngói. N&m 1995, Bộ y( té cÁp cho huyện Hồ Quàng 400 triệu đề xây dựng trung tâm y tể. Huyện đã chuyên về nơi mói 35 giường bệnh. 12 bệnh viện còn

PV- SK và ĐS năm 1996

Công tác y tế ở Cao Bằng

Công tác y tế ở Cao Bằng, thực trạng và giải pháp

Phóng sự điều tra của BS PHẠM BẬT – SK và ĐS năm 1996

Nói đến khó khăn trong quá trinh đổi mới đất nước từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hôi chủ nghĩa có sự quản lí Nhà nước thì ngành nào chẳng có, tỉnh nào chẳng có ; nhưng mỗi ngành, mỗi tình có những khó khăn ,đặc biệt ở những nơi khác không có. Cao Bằng là một tỉnh như thế.

Vài nét về Cao Bằng

Cao Bằng có vinh dự lớn được đón Bác Hồ về nói chuyện (ngày 28-1-1941) sau nhiều năm Bác bôn ba ở nước ngoài. Hang Pắc Bó, núi Các Mác, suối Lê-nin lán Khu 5;. Nơi đã trở thành huyền thoại in đậm trong tâm khảm người Việt Nam, đã thành lời ca điệu hát của Cao Bằng và của cả nước, Cao Bằng là cái nôi cách mạng. Bộ chi huy cách mạng được đồng bào các dân tộc Cao Bằng nuôi dưỡng; che chở, bảo vệ đã lãnh đạo toàn Đảng toàn dân làm Cách mạng tháng Tám thành công.

Cao Bằng có diện tích 8.445 km2, gồm 13 huyện thị vói 224 xã phường trong đó 211 xã vùng cao, có đường biên giói Việt – Trung 317 km dọc trên 42
Số 620.000 người bao gồm 20 dân tộc anh em chung sống : Tày. Nùng, Kinh, Mông, Lô lô, Sán Chí… Đời sống của đồng bào chủ yếu là làm nương ; nhiều người cơm chưa đủ ăn, quanh năm chỉ toàn là ngô, khoai, sắn. Năm 1995, ngân sách tỉnh thu được 51 tỉ nhưng chỉ tới 287 tỉ  (bội chi 236 tỉ, chi gấp 5,06 lần thu}, hoạt động y tế được tỉnh cấp 16,4 ti (7% tổng chi.

Hoạt động ngành y tế

Phòng chống sốt rét tại Khánh Sơn, tình Khánh Hòa.

Ảnh: NGUYÊN TRUNG – SK và ĐS năm 1996
trang thiết bị (giống như các sở y tế các tỉnh miền Bắc) và đang hoạt động có kết quả. Sau sự kiện biên giới năm 1979, cơ sở vật chất của ngành bị chiến tranh tàn phá gần như trắng tay. Rồi cuộc chuyên đôi cơ chế tứ bao cấp sang cơ chế thị trường, cơ sở vật chất của ngành vốn đã nghèo lại càng xuống cấp (Xem tiếp trang 2)

Từ 1954 đến cuối năm 1978, tỉnh đã xảy dựng đưọnc mạng lưới y tế tuyến xã, bệnh viện huyện, các trạm chuyên khoa, bệnh viện tính… có đủ cán bộ, nhà cứa, (Tiếp theo trang 1) nghiêm trọng trong khi vẫn phải bảo đảm thực thi nhiệm vụ y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Hàng vạn bác sĩ y khoa đã tốt nghiệp ra trường

Cuộc tiến công của Pháp lên Việt Bắc bị thất bại nặng. Quân dù bị bao vây, đánh tơi tả. Tàu chiến, ca-nô bị pháo binh ta bắn cháy đỏ rực sông Lô. 27 xe cam-nhông và thiết giáp chở lính dù bị phục kích diệt gọn ở đèo Bông Lau. Cánh quân đóng ở Chiêm Hóa bị tập kích, phải rút. Đến kỹ tuần tháng 12-1947, bại binh địch rút vế tới Cầu Đuống.

Cuộc hành quân “bao vây * khép kín” chấm dứt.

Đồng bào các dận tộc Việt Bắc trở về các làng bản ăn Tết Nguyên đán. Bà con giết lợn, mổ trâu, gói bánh tét, bánh tày. Các ké người Tày mời* cán bộ, sinh viên Trường Y đến từng nhà uống rượu nếp, ăn thịt hươu vừa săn được ngoài rừng hay cá tươi mới đánh dưới sông Lô.

Cơ sở của trường ở làng Ải bị đốt trụi, Nhà cửa, sách vở, thuốc men bị mất mát nhiều. Giữa lúc đó, tôi nhận được mảnh giấy trìệu tập lên ATK (an toàn khu).

Ai đã từng qua Việt Bắc, khó mà quên được canh thiên nhiên tuyệt đẹp ở đây, nhất là về mùa xuân khi hoa mận dại nở trắng rừng, cảy đào dại xòe những cánh hoa phơn phớt hồng, bụi chuối rừng trổ hoa nở rực như ngọn lửa bên bờ suối… Mặc dù, chú liên lạc cố giữ bí mật, tôi vẫn linh cảm rằng lần này lên ATK, tôi sẽ được gặp Bác Hồ. Chúng tôi lội qua một con suối, đi vào vùng rừng thẳm. Dưới tán rừng rậm rạp, thấy có mấy nếp nhà sàn. Hồ Chủ tịch tiếp tôi tại một trong mấy ngôi nhà ấy.

So với ngày còn ở Thủ đô, Bác gày đi nhiêu vì kháng chiến gian nan, nhưng dáng vẻ vẫn ung dung, thanh thản, vẫn chòm râu lưa thưa, dôi dép lốp – đôi dép đã đi vào truyền thuyết. Bác ngồi đó – hiện thân của nỗi đau thương và niềm hi vọng.

Tôi đem hết mọi nỗi lo lắng, băn khoăn về trường, về bệnh viện trình bày với Bác và đề nghị Chính phủ giúp đỡ.

Bác chăm chú lắng nghe, rồi ôn tồn nói:

– Nước nhà dang kháng chiến, gặp nhiều khó khăn. Các chú phải bàn bạc với nhau để tự mình tìm cách giải quyết. Chính phủ cũng sẽ cổ gắng giúp đỡ. Dù thế nào chăng nữa, chúng ta cũng không thể đóng cửa trường đại học…

Bác nói rất ngắn gọn. Nhưng qua mấy câu ngắn ngủi ấy, Bác đã chỉ hướng cho trường. Theo hướng đó, thày trò chúng tôi chung lưng đấu cật tự mình dựng lên những ngôi nhà mới giữa rừng xanh. Không có sách đi dạy học, thì vỉết sách. Không có chỗ cho sinh viên thực tập, lập lại bệnh viện thực hành, về sau làm được cả việc thử máu. thử phân. Trong số sinh viên có một anh trước kia đề học qua nghề kiến trúc. Anh này cùng anh Tôn Thất Tùng say sưa ‘sáng tác” các kiểu nhà giúp cửa không xiêu. không méo, khó bị mọt xống. Thậm chí khâu bụng, thì thay bảng dây dù lấy của Pháp. Ban đêm, mỗi lần mổ, anh Tùng nhờ một sinh viên trèo lên đạp chiếc xe Pegeot phát ra ánh sáng điện ắc quy. Và cuối cùng, Bệnh viện Chíêm Hóa cũng sản xuất được penixilin và chiếu X quang !

Tám năm kháng chiến chống Pháp, trường chúng tôi phải chuyển chỗ 13 lần. Mỗi lần chuyển là một lần phải làm lại nhá cửa, nhưng chúng tôi vẩn không ngừng đào tạo cán bộ y tế cho đất nước. Những sinh viên của Trường Y trong những năm ở Việt Bắc, về sau, nhiều người đã trở thành Viện sĩ, Giáo sư, Bộ trưởng, Viện trưởng của ngành y.

Sau ngày hòa tính được lập lại, trường nhanh chóng mờ rộng quy mô đào tạo. Hàng vạn bác sĩ y khoa đã tốt nghiệp ra trường.

PV – SK và ĐS năm 1996

Trường Y bên làng Ải

Chúng sục vào làng Ải, nơi trường đóng. Tôi phải lánh sang làng Bình. Hai làng cách nhau một con sông nhỏ gọi là ngòi Quảng. Sáng sớm mùa đông ở miền núi, rét như cắt đa. Sương mù phủ trắng núi rừng. Phía sau lưng, có tiếng súng nổ. Phía trước mặt là con ngòi vắng ngắt, không một lái dò. Địch sắp ập đến. Làm thế nào đi vượt qua con ngòi đó bây giờ ?

* Có ai bên kia, cho tôi sang với!

Tiếng gọi của tôỉ chìm đi trong vắng lặng. Nhưng ròi, tử phía bờ bén kia, bỗng vang sang một giọng miền Nam rất ấm áp:

– Cụ Di đấy phải không ? Có mảng dây, xín mời cụ sang

Thì ra đó là tiếng anh Trịnh Kim Anh. Anh Anh tự tay chống mảng ghé sót vào bờ cho tôi bước xuống. Anh Anh quê ở Nam Bộ. Tôi quê ở miền Trung, cả hai đều lên Vịệt Bắc tù ngày đầu kháng chiến theo tiếng gọi của Bác Hồ.

Tiếng tiểu kèn làm xan nả mỗi lúc một gần. Từ làng Ải, quân địch đă vượt ngòi Quảng sang làng Bình.

Tôi và cả gia đính vừa chạy vào ăn trong một đám cây rậm rì, thì bọn Pháp ập đến. Chúng tôi chui vào bụi, sương đọng trên cây cọ làm ướt hết đầu tóc, quần áo. Tiếng súng nghe như sát bên tai. Bọn chúng tiến đến gần, cách chỗ chúng tôi nấp chỉ độ vài trăm mét. Tôi nghe rõ tiếng một tên việt gian gọi loa : “A-lô Ị Quân Pháp mời bác sĩ Hồ Đắc và bác sĩ Tôn Thất Tùng vô làm việc với chính phủ Pháp. Chúng tôí biết rõ bác sĩ Hồ và bác sĩ Tùng hiện dang ở quanh đây. Quân đội Pháp sẽ hết sức trọng đãi…”.

Nghe tỉếng loa của chúng, tôi rợn cả tóc gáy, tim đập thình thỉnh tưởng chừng muốn vở’. Tôi lo quả. Vợ tôi đưa mắt nhịn tôi. Chúng biết rõ chỗ chúng tòi nấp rồi chăng?
Không ra chúng có thể bắn chăng? Trong cơn thảng thốt tôi nói nhỏ với vợ : Chết thì chết, chứ không thể để cho chúng bắt lại một lần nữa. Câu nói ngắn gọn trong giây phút ấy không phải là ý nghĩ thoảng qua, mà là điều tôi đã nghiền ngẫm từ lâu, đã ăn sâu trong tiềm thức, và đến giây phút gay go nhắt, giây phút quỵết định của cuộc đời, nó bật ra.

Có thể bọn Pháp không nói dối. Nếu tôi và anh Tùng chịu quay về Hà Nội, làm việc cho bọn chung, thì sẽ có ngay nhà cao cửa rộng, có đủ phương tiện và tài liệu cho công việc khoa học, vợ con chúng tôi sẽ khỏi phải ở rửng nằm bụi, ăn uống kham khô…

Nhưng…

Tất cả cái quá khứ tủi nhục của người dân mắt nước làm cho tôi giật mình, sống dưới ách của bọn chiếm đống, thật dáng ghê sợ. Sự ân hận, sự giày vò tôi đến suốt đời… không, tôi không thể nào phụ lòng Hồ Chủ tịch… Cuộc sống ở vùng căn cứ kháng chiến lắm gian nan, nhưng ở đây, tôi tìm thấy sự thanh thản cho lương tâm người trí thức…

Tối hôm ấy, trở lại lằng Bình, tôi được anh em dân quân cho biết: quân Pháp đã đốt bệnh viện thực hành của Trường Y bên làng Ải, giết một bệnh nhân và đốt luôn ngôi nhà sàn cua anh Tùng bên đó. Cũng may tụi chúng nó quá bận tâm đến gà vịt, cho nên không được mẫn cán cho lắm trong việc tìm bắt tôi và anh Tùng.

PV- SK và ĐS năm 1996

Phòng mổ trên nhà sàn

Trước mắt tôi là con ngòi Quảng, nước lũ đỏ ngầu, vỗ vào hai bờ đá ào ào. cả một vùng hoang vu, trơ trọi một nếp nhà. Và người địa phương lúc đó cũng chỉ thấy cổ một bác lái dò. Tôi nhìn vợ con, nhìn rừng núi, lòng buồn man mác.

Tuy lo lắng, nhưng tôi vẫn cùng anh em tao vào còng việc. Và mọi việc đã diễn ra không đến nỗi buồn như tôi tưởng. Một số chúng tôi vào ở nhờ nhà dân, một số khác ở nhà bè, lán nứa do tự tay mình dựng lên. Chỉ sau một thời gian ngăn, đã có một “cơ ngơi tạm ổn. Cũng có phòng mổ trên nhà sàn, chung quanh vây màn trắng sạch sẽ. có giảng đường mái tranh vách nứa, có phòng thí nghiệm, v.v. Trường Đại học Y lúc đó chỉ có hai Giáo Sư : tôi và anh Tôn Thất Tùng. Ngoài ra, còn có vài ba y tá và 11 sinh viên mà chúng tôi gọi là “sinh viên xung phong”.

Ngày 6-10-1947, Trường Oại học Y của nước Việt Nam kháng chiến làm lễ khaỉ giảng năm học mới. Giáo sư, sinh viên, nhân viên và cả những người thân trong gia đình họ họp mặt tại giảng đường. Một số đồng bào ở làng AV làng Bình cũng đến dự cho đông vui. Đến dự còn có Bộ trường Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, dại diện Chỉnh phủ,*Rung động cùng một nhịp với cái rung động của Tổ quôc trong giờ phút đau thương cũng như trong những ngày hoan hỉ, tất cả tâm trí hướng thẳng về nền độc lập, với lòng tin mãnh liệt vào thắng lợi, với lòng căm thù ách nô lệ và tình yêu tha thiết tự do,’ trướng đại học coi việc phụng sự Tổ quốc là một việc dĩ nhiên (…) Đối với tất cả những ai đang chiến đấu cho Tổ quốc được tự do, trường đại học xin gửi lời chào thăm thiết và xin thề quyết bảo vệ di sản tinh thần của cha ông…”

Bây giờ do chưa quen diễn đạt từ bằng tiếng việt tôi phải viết bài diễn văn bằng tíếng Pháp. Tôỉ viết say sưa đến mười mấy trang đánh máy, đọc trong gần nửa tiếng đồng hồ. (Bài diễn văn lịch sử ấy hiện vẫn được giữ tại phòng truyền thống của Trường Đại học Y Hà Nội – H.C)

Ngàỵ hôm sau, 7-10-1947, Pháp mở cuộc tấn công lên Việt Bắc theo kế hoạch “Clos-clos (bao vây – khép kén) do tôn tướng Valuy, tổng chi huy quàn đội Pháp ở Đông Dương vạch ra. Quân dù đỏ xuống Bắc Cạn. Quân thủy, gồm nhiêu (ca-nô, tàu chiến, ngược sông Lô, tiến đánh Tuyên Quang. Sau mấy hôm, địch chiếm Chiêm Hóa.

PV- SK và ĐS năm 1996

Sự lựa chọn của lương tâm và trí tuệ

là mục đích tư lợi, y chiếm đoạt 54,263.454 triệu đồng bao gồm lãi tiết kiệm, lãi XN dược,từ lãi Công ty được trả.

Lê Minh Nam bản thân tốt nghiệp đại học bách khọa về công tác BHYT tháng 12-1992 nhiều trách nhiệm phải làm từ những gì và không được làm những gì ,nhưng y vẫn thực hiện việc làm sai trái tạo ra số tiền chênh lệch để chiếm đoạt lập ra chứng từ thu 70.374.000 đồng vào quỹ gọi là Tự cổ“ chi nội bộ ngoài sổ sách cùng với in, Phụng lập ra 24 chứng từ lãi suất từ 24.889.700 đồng trong đó Phụng không lỡ nhận đã chiếm đoạt 17.852.200 đồng do vậy Nam, Hội, Phụng cùng phải chịu trách nhiệm về số tiền trên.

Nguyễn Thị Hội : tham ô 1.668.854 đồng trong quỹ “tự có” của BHYT tuy làm theo mệnh lệnh của Phụng nhưng không lập sổ sách chứng từ theo dõi để Phụng thao túng và chạy tội.

– Dương Minh Toàn là kể toán không làm đầy đủ để Nam và Hội thực hiện thủ đoạn chiếm đoạt tài sản, bản thân biết nguồn tiền 100 triệu cho xí nghiệp dược phẩm vay Khi nhận lãi 11.000.000 đồng cũng bỏ túi 3.500.000 để cho Phụng chiếm đoạt 8 triệu dồng.

– Nguyễn Thị Phương tà thủ quỹ tuy có biết vụ việc tiêu cực xảy ra BHYT để không vào sổ sách nhưng số tiền chiếm dụng trong 2 lần 176.000 đồng không cần thiết xử lý bằng hình sự.

Sổ tiền bọn chúng nộp lại ngân sách trong quá trình thanh tra kiểm tra và điều tra mà chúng đã chiếm đoạt. Nguyễn Minh Phụng 23.165.300 đồng, Nguyên Thị Hội 7.084.800 đồng, Lê Minh Nam 1.691.600 đồng và XN dược phẩm Bình Định 11.600.000 đồng.

Qua vụ án trên mong rằng ngành y tế và chính quyền địa phương cần kiểm tra, giám sát nguồn thu của BHYT và sử dụng quỹ không để cho kẻ xấu lợi dụng xâm tiêu như BHYT tỉnh Bình Định.

Đào Minh Khoa-SK và ĐS năm 1996

Sự lựa chọn của lương tâm và trí tuệ

Hàm Châu -SK và ĐS năm 1996

Tôi và anh Tùng dừng Ịạị ở Vân Đình. Và chúng tôi lại hăm hở bắt tay vào việc : việc của Trương Y, việc của Bệnh viện Phủ Doãn. Một tháng sau, trường tiếp tục giảng dạy ngay trong nhà đồng bào địa phương nhặc dù sô sinh viên chi vẻn vẹn có hơn một chục. Được tin địch sắp đánh ra Vân Đình, chúng tôi di chuyển lên Việt Băc, dừng lại ở thị xã Tuyên Quang một thời gian, rồi ngược Chiêm Hóa.

Tôi đến bến đò Quảng vào một buổi chiều tháng 5-1947. Rừng núi hoang vu, nhìn quanh chỉ thây một màu xanh rờn rợn tường chừng chỗ nào cũng đầy muỗi, sổt rét, thú dữ. Mùi lá mục ẩm ướt bốc lên. Trên cỏ cây, hàng đàn vắt vươn vòi chực hút máu.

Quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng

về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Hồ sơ vụ án đã được chuyển sang VKSND tỉnh Bình Định để truy tố trước pháp luật. Kết luận điều tra như sau : Bảo hiểm y tế Bình Định được thành lập từ tháng 9-1992 là một tổ chức kinh doanh tự hạch toán không thu lợi nhuận huy động của cá nhân, tập thể, huy dộng xã hội để phục vụ cho khám, chữa bệnh. Từ tháng 11-1992 đến 12-1994 BHYT Bình Định dã thu vào quỹ BHYT được : 5.716.663.753 đồng. Từ tháng 1-93 đến 10-1994 Nguyên Minh Phụng nhiêu lân trực tỉếp hoặc chỉ đạo cho kế toán, thủ quỹ lấy tiên từ nguồn thu BHYT gửi tiết kiệm, mua kỳ phiếu tại chi nhánh ngân hàng công thương và chi nhánh ngân hàng nông nghiệp. Tổng số tiền di gửi tiết kiệm và mua kỳ phiếu của BHYT là 2.053.400.000 dồng trong dó có 1.750.000.000 đồng đứng tên Nguyễn Minh Phụng, 285 triệu đồng gửi đứng tên Nguyễn Thi Thu Hương, trên sổ sách phản ảnh 18.400.000 đồng lãi của các món gửi trước đó mà Phụng trực tiếp nhận không nhận quỹ mà sử dụng mua 2 kỳ phiếu này vay tiếp… Sự việc cứ tuần tự diễn ra, số tiền lãi thu về không vào sổ sách kế toán, nhiều lần Phụng lây sử dụng riêng. Tháng 9-1993 Phụng sợ lộ cho nên chủ trương cho Lê Minh Nam kê toán và Nguyền Thị Hội thủ quỹ lập 24 chứng từ (Nam lập 23, Hội lập 1) lãi suất từ 0,1% đến 0,2% lấy %. Trong 24 chứng từ khống này lệch ra gần 24 triệu đồng. Cũng trong thời gian này Nguyên Thi Thu Hương và Nguyên Thị Hội đã 7 lần nhận tỉền lãi suất quỹ BHYT : 2.437.500 đồng Nam đưa vào quỹ : Tự cổ”. Ngoài ra Ngân hàng đã 13 để lần chi lãi cho Nguyễn Minh Phụng, riêng Nguyễn Thị Hồi, Nguyễn Thị Thu Hương đa tà 6.544.900 đồng.

Ngày 5-5-1993 Phụng cho chuyển 100 194 triệu đồng đến xí nghiệp dược phẩm nói dối là mua thuốc nhưng thực tế cho vay lấy lãi, đến 11-1993 đã 6 lần nhận lãi khoảng 11.500.000 đồng – Khi bị sờ Tài chính phát hiện yêu cầu thu hồí về BHYT thì ngày 8-11 -1993 tại chuyển 100 triệu đồng này và sang Công ty dược phẩm với lý do ứng trước tiền mua thuốc và 7 tháng nhận lãi ngày khoảng 16 triệu đồng không vào sổ sách để chi tiêu riêng với nhau…

Nguyễn Minh Phụng là giám đốc BHYT 30 chỉ đạo cho kế toán, thủ quỹ làm trái các là qui định của Nhà nước về QLKTTC với

PV- SK và ĐS năm 1996