Nỗi oan được lưu kho P3

Sự đồng ý của sở y tế. Và: “Trước sự oan trái này cho nên tôi đã viết nhiều đơn lên các cấp có thẩm quyền, các cơ quan thông tin đại chúng từ địa phương đến Trung ương đề nghị giúp tôi làm sáng tỏ vụ việc đã được đài, báo địa phương và Trung ương đưa tin; Văn phòng Chính phủ, Bộ Y tế, Văn phòng Quốc hội, Ban tổ chức Chính phủ, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động – Thương binh xã hội, Thanh tra Nhà nước… đã có công vân hoặc thông báo gửi huyện, tỉnh Hà Tĩnh. Nhưng đến nay vụ việc vẫn chưa được giải quyết. Kính thưa các đồng chí, vụ việc oan trái của tôi đên nay đã hơn sáu năm, tôi mất tất cả, tôi là một thầy thuốc đã cùng đồng đội cứu sống nhiêu bệnh nhân, bây giờ tôi đang bị một ít ông Lãnh đạo địa phương cố tình trù dập. Vậy tôi tha thiết đề nghị các đồng chí cứu tôi thoát khỏi sự oan ức này”.

Sáng 25 tháng 2 năm 1997 vừa qua, một người đàn ông trạc 50 tuổi, y phục cố làm vẻ tươm tất nhưng không giấu đuợc khuôn mặt héo hắt, bằng cái giọng đặc Hà lĩnh xin đuơc gặp Tòa soạn báo SK&ĐS. Ông lôi từ bọc nylon ra một tập vừa đơn vừa hồ sơ dầy cộp, rồi nhặt khoan kể lể: “Dạ thưa, tôi là Giao, quê Đức Thọ, Hà Tĩnh (…) sau khi tốt nghiệp, nhiều người có nguyện vọng ở lại Hà Nội để có điều kiện phát huy chuyên môn, tôi thì tình nguyện xin về quê, trên phân công ở Bệnh viện Hương Sơn, huyện ni nghèo lắm các anh ơi…” ông kể qua về bản thân, gia đình, cơ quan rồi lái sang chuyện “Vạ gió tai bay bất kỳ” dằng dặc như tiểu thuyết chương hồi. Tôi vừa nghe, vừa liếc vào phần chốt của tờ đơn khiếu nại, thấy viết: “Yêu cầu: 1. Đối vói tôi người bị oan giải quyết theo điều 24 Luật tố tụng hình sự (trả tôi lại tiếp tục đi làm tại bệnh viện Huơng Sơn, Hà Tĩnh); 2. Ông Giám đốc Trung tâm y tế phạm tội vu khống, xử theo điều 117 bộ Luật hình sự. Một lần nữa tôi đề nghị các cơ quan Trung ương giải quyết để bảo đảm khách quan công bằng đói với mọi người trước pháp luật, bảo đảm như lời Đảng ta đã dạy xây dựng một xã hội công bằng văn minh”.

Hà Nội – Hà Tĩnh cách nhau khoảng ba năm rưỡi cây số, chừng bẩy giờ tầu chạy, thế mà hình như ở cái “ốc đảo”Huơng Sơn có thứ luật riêng. Lạ nhỉ? Một ông thầy thuốc đang yên đang lành bị dựng chuyện vu khống, đã được giải oan, vẫn bị treo dao gần bẩy năm trời. Bây năm BS Võ Giao bị cắt cơm, o ép đủ kiểu, may thần kinh vẫn chưa sao, đủ biết ông cũng thuộc hạng người đởm lược trên đời. (còn nữa)

SK và ĐS năm 1996

Nỗi oan được lưu kho P2

về hành vi của mình. Đề nghị UBND tỉnh Hà Tĩnh, UBND huyện Hương Sơn khẩn truơng xem xét và trả lời công khai truớc côn luận vụ việc này”.

Đọc đến đây chắc nhiều người phải bật ngửa, thốt lên: “Đài, báo như rứa mà sao cái tiêu vương quốc Hương Sơn này vẫn không hề nao núng?!”

…VÀ ÔNG THẤY MÌNH KHÔNG LẺ LOI

Vâng, đài nói, báo viết, dư luận xôn xao vấn không lay chuyển được ý chí sắt đá, những con tim bọc thép của ông GĐ trung tâm và vị Chủ tịch UBND huyện Huơng Sơn. Bác sĩ Võ Giao âm thầm chịu đựng gánh nặng bất công, vật vờ sống bám vào đồng lương ít ỏi của vợ, kiềm chế và chi li trong sinh hoạt, bớt bát nuôi hai con nhỏ ăn học. Bạn bè, đồng nghiệp, đồng hương và người thân chỉ còn biết thương ông, an ủi ông, bởi họ cũng chả hơn gì ông, ở cái lãnh địa ấy họ chỉ là hạng chân đất đầu trần, thấp cổ bé họng. Mặc dầu trong một lá đơn kháng nghị, vội vã quên đè ngày tháng, chữ ký đặc sịt trang rum giấy học trò đã đồng thành thương cảm và phẫn uất: “… nhận thấy các lý do nêu trong quyết định của UBND huyện Hương Sơn để kỷ luật BS Võ Giao không có cơ sở, không có căn cứ, không đủ độ tin cậy, vì không được tập thể CBCNV kiểm điểm, không được chi bộ Đảng, và Ban chấp hành Đảng uỷ kiểm điếm xem xét kết luận, mặc dầu BS Giao là phó Bí thư chi bộ và (trong) Ban chấp hành Đảng uỷ. Đây là một quyết định phi tổ chức, phi dân chủ và sai thủ tục (…) Đây là một kết luận vội vàng, không công minh chính đại, mang tính trù dập định kiến…”

Sở dĩ BS Võ Giao chưa thoái chí, vì ổng còn niềm tin và luôn thấy mình không lẻ loi. Cứ đọc ỉá đơn ông mới làm gần đây, bỏ trống chỗ “Kính gửi”, khắc biết “…ông Chủ tịch đã ra quyết định kỷ luật tôi (…) một quyết định hết súc không bình thường, vì ra quyết định kỷ luật tôi mà không thông qua xác minh kiểm tra, cũng không tiến hành các biện pháp tổ chức như họp kiểm điểm chuyên môn, đoàn thể, mặc dầu trong trung tâm có đủ tổ chức, mặt khác, kỷ luật tôi không được

SK và ĐS năm 1996

Nỗi oan được lưu kho

Công luận đứng về phía bác sỹ Giao

Bài Nỗi oan Võ Giao, chuyện thật mà như bịa của Đinh Văn Nam đăng ở Tiền Phong số 14 ngày 6-4-1993 sau khi nêu rõ nguyên nhân và mọi tình tiết quanh vụ mưu sát giám đốc do chính ông giám đốc Bùi Thanh Tịnh sáng tác kịch bản kiêm đạo diễn và sắm vai chính bài báo đưa ra phần hậu kỳ bác sỹ Giao bị thanh trừng, hẳn bạn đọc sẽ nghĩ rằng sau khi kết luận điều tra vụ mưu sát là không có, ắt chủ tịch UBND huyện Hương Sơn đã xóa cái quyết định số 64 QDUB nói trên. Không, bản quyết định thôi giữ chức ấy vẫn giữ nguyên, thôi giữ chức là thôi tất cả, thôi đảng thôi nghề thôi như mẹ hiền…và dưới cái tiêu đề trách nhiệm thuộc về ai, tác giả kết luận chủ tịch Hà Tĩnh đã ghi vào đơn khiếu nại của BS Võ Giao: kính chuyển đồng chí chủ tịch UBND huyện Hương Sơn , đề nghị đồng chí nghiên cứu để bố trí công tác cho BS Võ Giao. Ngày như một thứ “lệ làng”.

Còn trên trang 3 báo Đại đoàn kết số 3*26-3/8-4-1992 có bài viết nhan đề “Từ lá đơn vu khống hay câu chuyện hoang về vụ mưu sát không thành”. Tác truy nguyên tai họa giáng xuống đầu BS Võ Giao vì”… cứ giữa năm 1991, thời mà Trung câm y tế huyện Hương Sơn đang thực hiện chỉ thị 110 của HĐBT về giảm biên chế.. ” Ông giám đốc Bùi Thanh Tinh chộp lấy thời cơ. thẳng tay loại trừ những đồng nghiệp không ăn chắc là BS Giao là cái bia húng phát đạn từ súng, mà xem ra vẫn hợp lình lý. Nhưng theo báo trên thì trơng “vụ mưu sát Giám đốc” đáng kính, do BS Võ Giao ủ mưu, cầm đâu cả một tổ chức trong cơ quan có ba thương binh chống Mỹ (?!) Còn 1 “vi phạm tài sản XHCN” lại được các xí nghiệp trong cơ quan xác nhận rằng Giao đã đem 250. tam tốn phe liệu, trong trên 10 năm “giải quyết cho CNV trong bệnh viện để trả công cho qua một tháng di chuyển bệnh viện”.

Xin bàn ngang đôi lời, cái gọi là “tài sản XHCN” này, thực tế là đóng tôn hỏng 1 chính tay BS Võ Giao khéo léo quy từ tiền bồi dưỡng ra hiện vật, đế trả lại cho người trong bệnh viện; rất may, còn giữ được biên bản lập ngày 10-989 kèm theo danh sách và chữ ký những người được cấp phát.

Trở lại bài báo trên, đoạn cuối tác giả thùng đưa ra kiến nghị: “Nguyện của BS Giao là đuợc giải oan và bố trí công tác theo đúng nghề nghiệp chuyên môn của mình. Ngoài ra, chúng tôi, những người đã vu oan cho  Giao cũng phải chịu trách nhiệm

SK và ĐS năm 1996

Văn hóa và vấn đề bảo vệ sức khỏe P3

dân y, quân y đã về hưu cần được trang bị những phương tiện cần thiết để trở thành những thầy thuốc gia đình. Hiện nay có những vấn đề đang đặt ra, như vấn đề điều trị bệnh phong đã hết thời gian “hoạt tính” tại gia đình. Đây là vấn đề có tính xã hội rất lớn và ở từng gia đình đảm nhiệm công việc đó là tốt hơn ở các trại tập trung. Kinh nghiệm ở trên thế giới đã cho thấy rõ điều đó.

Bên cạnh y tế gia đình là y tế thôn, bản. Người thầy thuốc y tế thôn bản hoạt động có tính chất nghiệp dư, kiêm nhiệm. Có thể là các thầy thuốc đã về hưu hay là các y tá trẻ. Y tế thôn bản cỏ trách nhiệm hỗ trợ cho y tế gia đình, khám chữa các bệnh vượt quá khả năng của y tế gia đình. Các thầy thuốc y tế thôn bản có thể được trang bị túi thuốc cơ động và hưởng phụ cấp hàng tháng do nhân dân thôn bản bàn bạc đóng góp. Ở các vùng biên giới, y tế thôn bản có thể được hỗ trợ của y tố các đơn vị bộ đội biên phòng, tạo thành mạng lưới sâu rộng, vững chắc ở cơ sở để đảm bảo việc khám chữa bệnh kịp thời cho nhân dân.

Bên trên y tế gia đình và y tế thôn bản là các trạm xá xã. Đãy là đơn vị y tế cơ bản cấp thấp nhất trong hệ thông bốn cắp ở nước ta. Trạm xá xã phải có thầy thuốc đa khoa, thầy thúốc chuyên khoa sinh sản để làm nhiệm vụ khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân vả đảm bảo phục vụ các bả mẹ và trẻ sơ sinh. Nhà nước ta và Bộ Y tế đang có chủ trương phấn đấu để mồi một trạm xá xả có một bác sĩ đa khoa, hiện nay tỳ lệ này mới là 20%, phấn đấu đến nầm 2000 là 4050%.

Trong 6-7 năm tới, Nhà nước đã cho phép vay vốn Ngân hàng thế giới đế xây dựng hệ thống y tế cơ sơ ở 15 tỉnh, mỗi năm mỗi tỉnh sẽ có 1 triệu USD, 7 năm có 7 triệu USD Đây là một nguồn vốn khá lớn và chác chắn với nguồn vốn này, hệ thống y tế cơ sở ở các tỉnh được đầu tư sẽ có một bước tiến đáng kể, công tác khám chữa bệnh sẽ được nâng cao.

Phát huy và kết hợp y học dân tộc với y học hiện đại trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe ở nông thôn, sử dụng y học dân tộc trong việc khám chữa bệnh là một nét văn hóa độc đáo ở nước ta và các nước phương Đông. Phương pháp này được tích lũy bằng nhũng kinh nghiệm dân gian đã có nhiều tác dụng tốt và rất phù hợp với hoàn cảnh ở nông thôn. Người nông dân chữa nhũng bệnh thông thường bằng các cây thuốc mọc hoang dại, hay nhũng cây thuốc trồng trong vườn thuốc và bang nhiều các phương pháp khác ngoài tày y. sử dụng những phương pháp này bệnh nhân không phải đến bệnh xá, không mất tiền không mất thòi gian và không để lại di chúng gì trong quá trình chữa bệnh. Vì thế trong nhân dân ta vẫn rất cảm tình với các bài thuốc nam. Vì vậy một trong những phương châm chữa bệnh của chúng ta là phát huy y học cổ truyền theo phương hướng tận dụng các biện pháp chữa bệnh bằng những kinh nghiệm dân gian, nhưng y học cổ truyền cũng không phải dùng lại ở những kinh nghiệm này mà y học cổ truyền cũng ngày càng phát triển, ngày càng hiện đại, ngày càng có cơ sở khoa học. Các bệnh viện đông y (à những cơ sở khám chữa bệnh dựa trên những thành tụu của khoa học đông y và ngày nay kết hợp với cả các phương pháp chẩn đoán của tây y đã làm cho hiệu quả của phương pháp chữa bệnh đông y được nàng cao rất nhiều, ở nước ta hiện nay tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đều có bệnh viện đông y, ở các trung tâm y tế huyện có khoa đông y và chúng ta cũng cò đội ngũ thầy thuốc đòng y có nhiéu kinh nghiệm, được đào tạo một cách cơ bản luôn luôn là một phương châm quan trọng trong khám chữa bệnh cho nhân dân. bên cạnh đó là các thày thuốc đông y mà ở đâu cũng có tạo thành một mạng luới rộng lớn cùng với tây y đảm nhận công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe ở nông thôn một cách có hiệu quá.

SK và ĐS năm 1996

Văn hóa và vấn đề bảo vệ sức khỏe P2

đặc biệt ở khu vục nông thôn. Những nội dung của các quan điểm nhất là quan điểm bằng là nhằm mục tiêu thực hiện việc chữa miễn phí cho người nghèo, mà người nghèo nước ta hiện nay chủ yếu là ở nông thôn: ở ‘vùng núi, vùng xa.

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động – Thương binh xã hội ở nước hiện nay có khoảng 20% người nghèo, trong có 4% người đói, có tỉnh ở miền Trung số lời nghèo tới 30%. Như vậy ở nước ta có wng 15 triệu người nghèo, trong đó có 3 triệu người đói. Một số vấn đề đặt ra là phải có biện áp huy động các nguồn lực để có ngân sách chữa bệnh miến phí cho 15 triệu người và trong đó có 3 triệu người không những được chữa bệnh miễn phí mà còn phải cho cả trong thời gian nằm ở bệnh viện.

Đây là một nội dung cơ bản của quan điểm bằng, công bằng không có nghĩa là đối với mọi người như nhau, mà nói đến công bằng phải nói đến sự ưu tiên, ưu tiên đối với những người có công, với những người nghèo, với vùng nghèo. Có thực hiện tốt vấn đề này, Nhà nước mới thể hiện đầy đủ tính ưu việt, sự định hướng xã hội chủ nghĩa, những người nông dân nghèo mới có điều kiện chăm lo sức khốe, phát triền thể lực và cũng từ đó mới có điều kiện phát triển xuất sắc, thực hiện được xóa đói giảm nghèo ớ khu vực nông thôn.

Trách nhiệm báo vệ và chăm sóc sức khỏe cho người nghèo là trách nhiệm chung cúa toàn hội trong đó Bộ y tế giữ vai trò nòng cốt.

Quán triệt những quan điểm của Đảng, trong gian vừa qua, Bộ Y tế đã tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động phối hợp với các ngành các cấp đế tìm ra các giải pháp.

Tháng 4 năm 1996 ở thành phố Mỹ Tho Bộ Y tế đã cùng vơi Ban khoa giáo trung ương và tỉnh Tiền Giang tổ chức Hội thảo khoa học về công bằng trong bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tháng 6 năm 1996 tại Hà Nội, Bộ V tế đã tổ chức cuộc Hội thảo liên ngành để khám chữa bệnh cho người nghèo”. Nội dung của các cuộc hội tháo này là thống nhất những quan điểm vế Vần đề này, và thảo luận về những biện pháp của từng ngành từng cấp và những biện pháp phối hợp liên ngành để thực hiện việc khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo.

Xây dựng mạng lưới y tế cơ sở, trước hết là phàt huy vai trò của từng gia đình, gia đình là một tế bào của xã hội, là một cái nôi mà ở đó công việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe được thực hiện tận tình, chu đáo nhất. Sự gần gũi hàng ngày, năm vững diễn biến tình trạng sức khỏe háng ngày là một yếu tố rất quan trọng. Ông bà. cha mẹ là những người chăm sóc tốt nhất, kịp thời nhất cho con cái khi còn nhỏ. Đến lúc tuổi già, con cháu lại là người chăm lo tốt nhất, kịp thời nhất sức khỏe của ông bà cha mẹ.

Vì thế cần làm cho gia đình trở thành đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống y tế. Mỗi gia đình cần có một tủ thuốc nhỏ, có các loại thuốc chữa bệnh thông thường, đồng thời được trang bị những kiến thức cần thiết nhắt để biết phát hiện và điều trị các bệnh thông thường xảy ra. Mỗi gia đình cần có một cuốn sổ tay hướng dẫn phát hiện bệnh tật và điều trị. ớ từng gia đỉnh còn có thể có giường bệnh gia đinh. Khi ốm đau có thề nằm tại nhà, các thầy thuốc theo dõi, hàng ngày đến khám, chữa, cho đơn. Đây là một cách chửa bệnh thuận tiện, gia đình đỡ vất vả; có điều kiện chăm sóc người bệnh chu đáo hơn và nhiều khi ít tốn kém hơn,

Để làm tốt việc này các trạm xá xã cần vươn tới đến từng gia đình, kết hợp với việc hình thành thầy thuốc gia đình, các bác sĩ, các thầy thuốc.

SK và ĐS năm 1996

Văn hóa và vấn đề bảo vệ sức khỏe

Văn hóa và vấn đề bảo vệ sức khỏe, giữ gìn thể lực phát triển nòi giống con ngườí Việt Nam ở nông thôn

Phát huy nhân tố văn hóa với vấn đề bảo vệ sức khỏe, giữ gìn thể lực, phát triển nòi giống ở nông thôn.

Ở phần thứ nhất đã phân tích mối quan hệ gíữa văn hóa và sức khỏe trong toàn xã nội nói chung. Trong cái chung đó, một khu vực cần được đặc biệt quan tâm đó là khu vực nông thôn sở dĩ như vậy vì ở nước ta khu vực nông thôn đang chiếm khoảng 80% dân số cả nước, và khu vực nông thôn đang là nơi khó khăn nhất trong mọi mặt đời sống trong đó có vấn đề bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Một nét đặc thù ở nông thôn là nơi trình độ văn hóa của người dân thấp hơn so với trình độ chung của cả nước và sức khỏe của nhân dân cũng thấp hơn so với trình độ cnung của cả nước. Nguyên nhân là do bên cạnh điều kiện vật chất thiếu thốn là các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân ở nông thôn đang là một vấn đề bức xúc, một vấn đề thuộc đường lối và quan điểm của Đảng ta. Đây là trách nhiệm chung của toàn xã hội và khi đề cập đến vai trò của văn hóa thì cũng đề cập đến rất nhiều lĩnh vực của văn hóa. Nhưng ở đây chỉ nêu riêng vai trò của văn hóa biểu hiện trong y tế. Hay nói một cách khác y tế chính là một mặt của văn hóa. Với cách đặt vấn đề như vậy, có những nội dung đặt ra như sau:

Quán triệt đường lối của Đảng trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân Nghị quyết 4 (khóa VII) của Trung ương Đảng nêu lên 5 quan điểm trong bảo vệ và chăm sóc sức khóe nhân dân Những quan điểm này cần được vận dụng thực hiện

SK và ĐS năm 1996

Tâm sự của một người nghiện ma túy bị nhiễm HIV P2

và đậu được thứ hạng Bình thư. Nhưng rồi tôi lại bị bạn bè rủ rê và tiếp tục hút lại. Vào kỳ thi tú tài 2, tôi thi rớt. Nhung nhờ sự động viên của gia đình và cô bạn thân yêu, tôi quyết tâm học và thi đậu kỳ 2. Sau đó, tôi ghi danh vào đại học Luật với mục đích là được hoãn quân dịch. Trong thời gian này tôi vẫn còn nghiện héroin và hút công khai trong giảng đường cùng và các bạn khác.

Năm 1973, Mỹ rút quân, nguồn héroin cạn dần. phải mua rất mắc Khi không còn mua nổi nữa. chúng tôi bắt đầu uống các loại thuốc kích thích như iménoctal . với liều rất cao. Ngày miền Nam được hoàn toàn giai phóng, chúng tôi rất mừng vì đã thoát đươc cuộc chiến tranh vô nghĩa. Chúng tôi tham gia vào các hoạt động xã hội, cùng với các anh bộ đội giữ gìn an ninh trật tự thành phố

Năm 1977. chiến trường Tây Nam bùng nổ. tôi tình nguyện vào bộ đội. Khi Campuchia được giải phóng, tôi được phục viên, về thành phố. không có công ăn, việc làm, bạn bè rủ rê. tôi lại tìm đến nàng tiên nâu. Lần này tôi xoay sang chích opium. Tôi đã nhiều lần dằn vặt để từ bỏ những cơn nghiện ngập này, nhưng cám dỗ và sự lôi kéo của bạn bè làm cho tôi không thể dút bỏ được. Thế rồi tôi quyết định đi thanh niên xung phong, xa thành phố. xa bạn bè xấu để làm lại cuộc đời.

Sống ở môi trường lành mạnh, những năm tháng ở rừng đã giúp tôi tránh được cơn nghiện. Nhưng đến năm 1984, đơn vị tôi giải thể. Trở về thành phố, tôi đã cố gắng không đến với ma túy được một năm. Nhưng rồi do không tìm được việc làm, phải sống bám vào cha mẹ già lại gặp nhiều chuyện buồn phiền, bạn bè rủ rê, một lần nữa tôi lại sa ngã

Đến năm 1995, khi có những thông tin về bệnh AIDS, gia đình tôi lo sợ vì tôi là người nghiện ma túy (thuộc nhóm nguy cơ cao nhiễm HIV), kỳ thị, bằt buộc tôi phải sống riêng, ăn uống riêng, mọi cái đều phải dùng riêng và phải đi xét nghiệm HIV. Tôi vô cùng chán nản, nghĩ rằng mọi người đều hắt hủi và tôi đã thắt cổ tư tử trong một lần tuyệt vọng. Nhưng gia đinh phát hiện kịp thời, cứu sống tòi. Sau đó. ba tôi khuyên can và bảo tôi đi xét nghiệm. Khi đi lấy kết quá biết đã bị nhiễm, tôi bàng hoàng lo sợ chết lặng trong giầy lát. sau đó đã nhận thấy tình trạng kỳ thị người nhiễm HIV còn khá phổ biến. Ngưòi nhiễm HIV bị cô lập, sống đơn độc trong xã hội, cần được sự giúp đỡ của Uỷ ban phòng chống AIDS thành phố, trong Trung tâm y tế dự phòng.Tôi đã tập họp các bạn đồng cảnh ngộ thành lập 30 nhóm ‘Ban giúp bạn” để cùng nhau sinh hoạt chia sé niềm vui. nồi buồn và những khó khăn trong cuộc sống: cùng động viên nhau để ổn định tĩnh *về tinh thần, để sống tốt

Nhóm “Bạn giúp bạn lúc đầu có 5 người trong Ban điều hành. Sau hai tháng hoạt động một người đã chết vì AIDS Nhóm lại tuyển thêm 2 người, và hiện nay ta có 6 người trong Ban điều hanh và đã huy động được 70 anh chị cem, chú yếu là người nhiễm HIV và vợ chồng của họ, đến sinh hoạt hàng tháng tại Trung tâm y tế dự phòng. Mỗi kỳ sinh hoạt oó chủ đề khác nhau, nhằm giúp đỡ người nhiễm hiếu được đấy đủ thông tin về AIDS, các quy định luật pháp, cách phòng lây nhiễm cho người thản, cách giữ gìn sức khỏe sao cho tiến triển của bệnh chậm đi.

Từ nghiện ma túy. không giữ gìn hành vi an toàn, bây giờ tôi phải mang HIV. Nhờ được các bác sĩ tham vấn, tôi đã hiểu cần phải có hành vi an toàn đế tránh lây lan cho cộng đồng, và nghĩ rằng trong quãng đời còn lại, tôi cố gắng làm việc gì đó có ích cho xã hội, đó cũng là lẽ sống và niềm vui của tôi hiện tại. Thay mặt cho cộng đồng người nhiễm HIV ớ Việt Nam, tôi kêu gọi các bạn đã không may bị. nhiễm HIV, đừng mặc cảm, sợ hãi, hãy thay đổi hành vi để giữ gìn cho bản thân, cho gia đình và xã hội, hãy ngắng cao đầu mà sống, hòa nhập cũng xã hội và sống có ích, vì đó là niềm vui của chúng ta. Còn với các bạn thanh, thiêu niên khác, tôi mong các bạn nên sống lành mạnh, tránh xa nhũng nơi ăn chơi trụy lạc, đừng để vướng phải HIV như chúng tôi.

SK và ĐS năm 1996

Tâm sự của một người nghiện ma túy bị nhiễm HIV

ĐỖ KIM SƠN

Vào những năm 1970, lúc đó tôi mới 16 tuổi, là tuổi nhiều ước mơ và hoài bão tươi đẹp nhất cho thời hoa niên vậy mà tôi lại lao vào chuyện ăn chơi, trụy lạc lúc nào không hay. Chỉ vì cái đam mê ăn chơi nhạc, tôi cùng các bạn tôi, lập ra ban nhạc và chuyên chơi trong các club Mỹ ở căn cứ Long Bình.

Các bạn cứ tưởng tượng một căn cứ lớn của Mỹ có nhiều club cửa đóng kín mít, mà lính Mỹ vào đây toàn hút heroin hoặc cocain. Người’ thi đông, phòng thi kín, họ hút nha khói đầy ngập gian phòng; dù mình không hút. chỉ ngủi hoặc hít thở không khí trong phòng cũng đủ nghiện rồi! Một hôm khi chơi nhạc xong, lúc ra về người tôi lâng lâng, cảm giác muốn ói và khó chịu vô cùng. Một người bạn nói với tôi “mày ngửi khói thuốc héroin của mấy thằng Mỹ sẽ thấy dế chịu bơn. dần dần rồi sẽ quen và sẽ có cảm giác “thích thú”. Ngày hôm sau. trước khi chơi nhạc, tỏi thấy các bạn tôi sẽ heroin vào thuốc lá rồi chuyền tay nhau hút. thấy tôi hỏi thi các bạn tôi mới nói “mày hút thử đi cho biết mùi đòi, hút vào nó sẽ kích thích, làm mình hưng phấn chơi rất hay”. Tỏi đã hút thử, và cứ như thế thử dần. thứ mãi và nghiện vào lúc nào không hay. Các bạn tôi cũng vậy, lúc đầu còn thấy khỏe mạnh nhưng càng ngày cơ thể càng suy nhược, cả ban nhạc đều nghiện, ngày nào có thuốc tụi tôi chơi mới được và chơi rất hay. Chính vi cải nghiền đó mà dần dần “thằng” bầu ban nhạc, ngày nào cũng cung cấp heroin cho chúng tôi sử dụng, bóp chẹt chúng tôi trong những hợp đồng làm ăn.

Sau một thời gian chơi nhạc ở Long Bình, gia đình thấy tôi ngày càng xanh xao. ốm yếu nên tra hỏi và bắt buộc tôi phần vào bệnh viện để cai. Sau một tháng ở bệnh viện, tôi tiếp tục đi học lá, cho đến ngày đi thi tú tài

SK và ĐS năm 1996

Nhà tế bần có vai trò gì không?

Trong một số hoàn cảnh, người ta không thể chăm sóc bệnh nhân tại nhà được. Một số gia đình quá nghèo hoặc đã bị sức ép quá mạnh. Một số bệnh nhân nhiễm HIV đã không muốn sống với gia đình hoặc đã bị gia đình ruồng bỏ.

Các nhà tế bần là những trung tâm hộ lý. chuyên biệt cho người bệnh ở giai đoạn cuối. Tại đây họ có thể nhận được sự chăm sóc tử tế trong một môi trường tương ái. Tất nhiên, như thế là cực kỳ tốn kém vá có thể làm tăng thêm thành kiến do việc cách ly với quảng đại cộng đồng Nhưng kể cả ở một số nước đã thiết lập được tốt chương trình chăm sóc tại nhà. người ta vẫn hoạch định những trung tâm nội trú ngắn hạn, đôi khi những trung tâm này còn được gắn với các phòng khám hoặc các bệnh viện. Chẳng hạn nhà tế bần Mashambazon ở Zimbabwe đã làm công tác hộ lý và chăm sóc y tế tích cực hơn ở nhà. Biên chế của nhà tế bần này chủ yếu là những người tình nguyện, họ là những thành viên trong gia đình, những thành viên của cộng đồng địa phương và những người nhiễm HIV hãy còn khỏe mạnh.

Tại nhiều nước châu Á, những người nhiễm HIV đã không thể được chăm sóc tại nhà vi sự kỳ thị của cộng đồng quá lớn. Ở Thái Lan, các nhà sư đang đóng vai trò đầu tầu trong việc chăm sóc. Tổ chức Triends of lite Center” đã được một nhà sư lập ra năm 1994 đẽ tương trợ những người bị AIDS. Biên chế gồm 2 nhà sư, 3 người làm công không chuyên môn và 3 người tình nguyện là những người bị nhiễm HIV. Trung tâm ‘ Những nguời bạn đời” này không nhằm mục đích trở thành bệnh viện, nhưng hoạt động như một trung tâm nội trú vàng lai và ngắn hạn. Trung tâm tiến hành huấn luyện những người nhiễm HIV và những người thân của họ về cách chăm sóc tại nhà. kể cả về y học dân tộc Thái và những cách điều trị bằng thảo mộc.

Theo ‘Bản tin AIDS 12/95

SK và ĐS năm 1996

Chỉ khâu phẫu thuật

Chỉ khâu phẫu thuật đóng một vai trò rất quan trọng, nhiều khi quyết định đến thành công của một ca phẫu thuật. Những phẫu thuật mạch máu hay dây thần kinh ngoải sự đòi hói các loại chỉ khâu có kích thước nhỏ hơn sợi tóc còn cần phải có độ bền cao, không gây nhiễm khuẩn cũng như các phản ứng thải loại do bộ máy miễn dịch của cơ thể tác động đến. Chinh vì vậy công cuộc tìm kiếm ra các loại vật liệu mới để dùng làm chí khâu, đáp ứng cho nhiều loại phẫu thuật khác nhau vẫn liên tục phát triển.

Gần đây nhất, các nhà nghiên cứu dược lý học thuộc Trường đại học VVyoming của Mỹ đã phát hiện ra một loại chỉ khâu phẫu thuật mới được sản xuất ra từ một loại tơ nhện. Các nhà phẫu thuật đã thừ dùng loại chỉ khâu mỏi này và đã rút ra những ưu điểm nổi trội của nó so với các loại chí khâu cổ điên khác, đó là độ dài và bến hơn cá loại sợi thủy tinh, khả năng bám chắc của chỉ vào các mô cơ thể, đặc biệt là mô xương, nó không có độc tính, không gây nhiễm khuẩn mà còn kháng viêm tốt, ổn định , đản hổi và không kích thích các phản ứng thải loại của các lymphô bào miễn dịch. Nhờ có những đặc tinh trên nên loại chỉ đặc biệt này được áp dụng để khâu các dây thần kinh, các mạch máu và nhất là các dày chằng bám vào xương. Theo đánh giá của Giáo sư Selwar và các đồng nghiệp của ông thi đây là một thứ chí khâu tuyệt vời đối với các vận động viên như đá bóng, điền kinh cũng như các sang chấn về cơ xương khác nhau.

Tuy nhiên, loại nhện tiết ra những sợi tơ vàng óng này lại rất hiếm hoi. Chúng chi có nhiều ơ vùng Nam Mỹ, có kích thước 2 cm và đặc biệt là không có chân. Loại nhện này có Khá nàng dệt thành những mạng nhện khổng lồ có đường kính từ 80 cm đến 1 mét. Vì nguồn nguyên liệu rất hiếm, phải khai thác từ tự nhiên nên hiện tại giá thành của thứ chỉ khâu phẫu thuật này còn rất đắt Các nhà khoa học về di truvền và sinh hóa đang thư tìm cách giải mã cấu trúc hóa học cua loại protein tạo nên tơ nhện đặc biệt này. Hy vọng cua họ là năm được bản đồ gen, trên cơ sở đó sẽ dùng công nghệ sinh học đế sản xuất ra tơ nhện một cách nhân tạo và như vậy mới có thể chế tạo ra được một khối lượng lớn, hạ giá thành sán phẩm.

KHẮC ĐÔN (Theo Science et Vie No 940)

SK và ĐS năm 1996